Luật sư Trần Khánh Thương

Giải quyết thế nào khi bị người khác đánh?

Khi có hành vi xâm phạm đến sức khoẻ của người khác thì tuỳ mức độ mà họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự, đồng thời, phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định của luật dân sự, cụ thể trong trường hợp sau:


Nội dung đề nghị tư vấn: Xin chào luật sư !!

Tôi tên là Phạm P T sinh năm 1996

Tôi bị người khác đâm bị thương và cũng chưa tìm được cách giải quyết.

Tôi cũng không hiểu về pháp luật nên xin luật sư tư vấn giúp tôi.
 
Vào ngày 18/5 Tôi cùng 1 người bạn vào quán net để chơi, vào quán thì có gặp 1 thanh niên tên là T trong tình trạng say sỉn, thì có xảy ra xích mích cãi qua cãi lại, tôi có đấm T 1 cái và đuổi theo qua bên kia đường, tôi có gọi T ra nói chuyện, trong lúc cãi qua cãi lại tôi có đạp T 1 cái và T rút dao ra đâm tôi vào bụng và tôi nằm viện gần 1 tháng.

Kết quả là tôi bị đứt dây chằn, cắt túi mật. Sáng ngày 23/6 công an gọi tôi lên giải quyết và yêu cầu tôi viết giấy bãi nại và viết Đơn xin từ chối giám định. Nhưng tôi không kí.
 
Giờ tôi mong luật sư tư vấn giúp tôi quy định về yêu cầu giám định và khởi tố với tội cố ý gây thương tích thế nào? Xin cảm ơn luật sư.

Giải quyết thế nào khi bị người khác đánh?

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, về trách nhiệm hình sự

Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

…”

Do vậy khi người khác có hành vi xâm phạm đến sức khoẻ của mình, bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi này đến cơ quan công an ở địa phương. Nếu có căn cứ xác thực, cơ quan công an sẽ thụ lý vụ việc trên.

Về vấn đề giám định: Việc giám định tỷ lệ thương tật của bạn do người đó gây ra là cơ sở để xác định người có hành vi phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Do đó, nếu bạn không đồng ý việc từ chối giám định bạn có thể yêu cầu cơ quan công an cung cấp cơ sở giám định có thẩm quyền để bạn thực hiện quyền yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật của mình.

Thứ hai, về trách nhiệm dân sự

Tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

…”

Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

“1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.”

Theo đó, người gây tổn hại cho sức khoẻ của bạn, ngoài việc chịu trách nhiệm hình sự (nếu hành vi đó thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm) thì còn phải bồi thường thiệt hại cho bạn. Mức bồi thường và cách thức bồi thường do hai bên thoả thuận căn cứ theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015.

Trân trọng!

Phòng luật sư tư vấn - Công ty Luật Minh Gia

Gọi ngay