Vy Huyền

Cố ý gây thương tích thì bị xử phạt như thế nào?

Nhờ luật sư tư vấn về trường hợp cố ý gây thương tích và hình thức xử phạt như thế nào, trách nhiệm khi có hành vi cố ý gây thương tích và vấn đề bồi thường thiệt hại. Nội dung tư vấn như sau:

1. Đối với hành vi cố ý gây thương tích thì bị xử phạt như thế nào?

Câu hỏi: Ngày 17-8-201x. Mẹ tôi là bên (A), đã bị 2 bố con nhà ông hàng xóm cùng làng (B) đánh bằng gậy. Mẹ Tôi đã có đơn trình báo với công an xã để đề nghị 2 bố con bên B sang xin lỗi. Nhưng bên B lại cãi bay ko hợp tác. Tôi là con của bên A. Đã nhắn tin cho con trai bên B nội dung là sang xin lỗi Mẹ Tôi. Nhưng con trai bên B lại có những lời lẽ đe doạ Tôi. 

Và 1 tuần sau vào ngày 23-8-201x Tôi và mấy người bạn đang ngồi uống bia thì con trai bên B có nhắn tin thách đố.Tôi cùng anh em ra bắt xe về gặp nói chuyện. Và anh em tôi có gây ra ẩu đả đánh nhau, đánh vào đầu con trai bên B. Bị khâu 3 mũi trên đầu. Tôi và anh em bị xử phạt như thế nào. Xin Chân thành Cảm ơn.

>> Tư vấn quy định pháp luật về hành vi cố ý gây thương tích, gọi: 1900.6169

Trả lời: Cám ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi về công ty luật Minh Gia.Với yêu cầu trợ giúp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định tại điều 104 bộ luật hình sự 2017 quy định như sau:

"Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

3. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm đến 07 năm.

4. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

5. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn đến chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

7. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm."

Trong trường hợp trên hành vi đánh người của bạn và anh em của bạn có thể cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điều 104 bộ luật hình sự,nếu tỉ lệ thương tật của con trai ông B từ 11% trở lên đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định của khoản 1 điều này thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Trường hợp tỉ lệ thương tật đối với con trai ông B từ 11% đến 30% nhưng thuộc các trường hợp quy định tại các điểm a đến điểm k khoản 1 điều này thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm.

Trường hợp tỉ lệ thương tật đối với con trai ông B từ 31% đến 60% thì bị phạt tù từ bốn năm đến bảy năm.

Trường hợp tỉ lệ thương tật từ 61% nhưng không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này thì bị phạt tù từ mười năm đến mười hai năm.

>> Giải đáp thắc mắc pháp luật hình sự, gọi: 1900.6169

2. Tư vấn về trách nhiệm khi có hành vi cố ý gây thương tích và vấn đề bồi thường thiệt hại.

Em xin chào anh, chị công ty luật Gia Minh.Anh chị cho em hỏi: trường hợp chú thiếm có xảy ra mâu thuẫn xô xát với cháu dâu tại nhà. Sau đó người cháu dâu này gọi chồng ( tức cháu ruột) người chú về và phá cửa cổng xông thẳng vào nhà dùng ống tiếp đập liên tiếp vào cánh tay trái hông và cổ của người thiếm gây bầm tím nặng. Người vợ của cháu thì tím tóc cho chồng đánh. Sau đó người chí cầm dao ra dọa thì hai vợ chồng người cháu bỏ chạy về. Sự việc hôm đó không ai nói đi nói lại nữa. Hai ngày sau vụ việc thì người vợ của cháu không để yên mà đi xin phân lợn về nhà khuấy và chờ lúc người thiếm đi làm trưa về tạt thẳng vào mặt. Người thiếm đang đi xe thì ngã nước phân dính vào mắt nhiễm trùng phải đi cấp cứu ở bệnh viện tỉnh. Chưa dừng lại ở đó sau khi thực hiện hành vi của mình thì người cháu dâu còn hỏi câu "mày chết chưa" .Sự việc gây bức xúc dư luận. Vậy anh chị cho e hỏi với hành vi của vợ chồng người cháu trên sẽ bị xử lý và truy cứu tránh nhiệm hành chính; hình sự như thế nào ạ. Em xin cảm ơn. Mong nhanh chóng nhận được hồi đáp của anh chị quý công ty!

Tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

Dựa trên thông tin bạn cho biết, vợ chồng chú thím và vợ chồng người cháu ruột có mâu thuẫn, xô xát với nhau. Trong quá trình xô xát, người cháu trai có dùng ống típ đập liên tiếp vào cánh tay trái, hông và cổ của người thím gây bầm tím nặng. Ngoài ra, người cháu dâu còn có hành vi tạt thẳng chất bẩn vào mặt người thím khiến người thím ngã và nhiễm trùng mắt phải cấp cứu. Theo đó, để xác định trách nhiệm hình sự hay xử phạt hành chính đối với vợ chồng người cháu sẽ phải căn cứ vào hành vi vi phạm, tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, cụ thể:

+ Về trách nhiệm hình sự:

Tại Điều 134 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2017 quy định như sau:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

...”.

Do đó, căn cứ quy định nêu trên, trường hợp hành vi của vợ chồng người cháu gây thương tích cho người thím với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% thì vợ chồng người cháu sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

Ngoài ra, trường hợp nếu tỷ lệ tổn thương cơ thể của người thím dưới 11%. Tuy nhiên, người cháu trai có dùng ống típ (hung khí nguy hiểm) đập liên tiếp gây thương tích cho thím. Do đó, trong trường hợp này, dù tỷ lệ tổn thương cơ thể của người thím dưới 11% nhưng vấn đề trách nhiệm hình sự vẫn được đặt ra.

+ Về xử phạt hành chính:

Trường hợp không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự thì hành vi cố ý gây thương tích của vợ chồng người cháu sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm e khoản 3 điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ – CP như sau:

“3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;”.

Ngoài ra, trường hợp xác định được người cháu dâu có cử chỉ, lời nói thô bạo nhằm khiêu khích, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người thím thì hành vi đó sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đến 300.000 đồng theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP.

+ Về bồi thường thiệt hại:

Tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm như sau:

"Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

Như vậy, ngoài vấn đề phải chịu trách nhiệm hình sự hay xử phạt hành chính thì vợ chồng người cháu sẽ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại theo quy định trên. Về mức bồi thường các bên có thể thương lượng, thỏa thuận với nhau. Trường hợp không thỏa thuận được, có thể yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định mức bồi thường dựa trên thiệt hại thực tế.

Trân trọng.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí