Hỏi đáp luật Doanh nghiệp

  • Kinh doanh theo phương thức đa cấp

    • 28/12/2020
    • Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn
    • Xin kính chào công ty luật Minh Gia. Quy định của pháp luật Việt Nam về bán hàng đa cấp? Địa vị pháp lý của người tham gia bán hàng đa cấp là gì (thương nhân, người lao động, người cung ứng dịch vụ…)? Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp có phải là hợp đồng thương mại hay không? Tôi xin chân thành cảm ơn!

    Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Gia. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

    1. Quy định của pháp luật Việt Nam về bán hàng đa cấp?

    Căn cứ theo quy định tại Khoản 11 Điều 3 Luật cạnh tranh 2004 thì bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:

    - Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;

    - Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;

    - Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận.

    Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 42/2014/NĐ- CP thì kinh doanh theo phương thức đa cấp là hình thức kinh doanh thông qua mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác từ hoạt động kinh doanh của mình và của mạng lưới do mình xây dựng.

    2. Địa vị pháp lý của người tham gia bán hàng đa cấp là gì (thương nhân, người lao động, người cung ứng dịch vụ…)?

    Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định 42/2014/NĐ- CP thì người tham gia bán hàng đa cấp là người giao kết hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp bán hàng đa cấp.

    3. Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp có phải là hợp đồng thương mại hay không? 

    Căn cứ theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 Nghị định 42/2014/NĐ-CP thì hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp là thỏa thuận xác lập mối quan hệ giữa người muốn tham gia bán hàng đa cấp và doanh nghiệp bán hàng đa cấp trong hoạt động bán hàng đa cấp.

    Căn cứ theo quy định tại Điều 24 Nghị định 42/2014/NĐ- CP: 

    " Điều 24. Hợp đồng tham giá bán hàng đa cấp

    1. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải ký kết hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp bằng văn bản với người tham gia bán hàng đa cấp.

    2. Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp phải bao gồm các nội dung cơ bản sau:

    a) Tên doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bán hàng đa cấp;

    b) Họ và tên, hộ khẩu thường trú (hoặc đăng ký lưu trú đối với người nước ngoài), nơi đăng ký tạm trú, số chứng minh nhân dân (hoặc số hộ chiếu đối với người nước ngoài) của người tham gia bán hàng đa cấp; số giấy phép lao động trong trường hợp người tham gia bán hàng đa cấp là người nước ngoài;

    c) Tên, công dụng, cách thức sử dụng, giá bán, các điều kiện và phạm vi bảo hành (nếu có), chính sách đổi, mua lại hàng hóa;

    d) Cách thức tính tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng nhận được từ hoạt động kinh doanh của mình và của mạng lưới do mình xây dựng;

    đ) Trách nhiệm của doanh nghiệp bán hàng đa cấp đối với hoạt động bán hàng đa cấp của người tham gia bán hàng đa cấp trong việc bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc người tham gia bán hàng đa cấp;

    e) Các trường hợp chấm dứt, gia hạn và thanh lý hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp;

    g) Cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng"

    Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại thì hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

    Tại Luật thương mại 2005 không có khái niệm Hợp đồng thương mại, tuy nhiên có thể hiểu rằng hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên , trong đó một bên là thương nhân hoặc tổ chức, cá nhân có hoạt động thương mại để xác lập, thực hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện các hoạt động thương mại.

    Nhận thấy, hoạt động tham gia bán hàng đa cấp cũng là một hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, do vậy có thể nói hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp là hợp đồng thương mại.

    Trên đây là nội dung tư vấn về: Kinh doanh theo phương thức đa cấp. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ bạn vui lòng liên hệ đến Luật Minh Gia để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Bài viết nổi bật
 Gửi yêu cầu tư vấn