Tuấn Luật sư

Tư vấn về tranh chấp tài sản thừa kế là Đất đai

Luật sư tư vấn trường hợp tranh chấp thừa kế liên quan tới mảnh đất do người chết để lại. Mảnh đất này chỉ mua bằng giấy viết tay, một người con của người chết là người trực tiếp sử dụng tới nay. Nội dung cụ thể như sau:

Cha mẹ tôi bỏ tiền mua 200m2 đất năm 1976 cho tôi ở. Lô đất mẹ tôi bỏ tiền mua chỉ có giấy viết tay, không có xác nhận của chính quyền địa phương. Cha mẹ tôi không ở, không có hộ khẩu và không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ gì đối với địa phương, không nộp thuế đất. Vợ chồng chúng tôi ở trên lô đất, kê khai sổ bộ, đóng thuế đất và thực hiện nghĩa vụ tại địa phương từ 1976 đến nay. Bây giờ các con riêng của cha tôi tranh chấp thừa kế có được hay không? Lô đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.”

Theo thông tin bạn cung cấp thì thửa đất này có nguồn gốc là do cha mẹ bạn bỏ tiền ra mua từ năm 1976 bằng giấy tờ viết tay. Do vậy nếu như hiện nay vẫn chưa có văn bản nào thể hiện việc cha mẹ bạn chuyển nhượng/tặng cho/thừa kế lại cho vợ chồng bạn mà hợp đồng mua bán viết tay vẫn thể hiện tên của cha mẹ bạn thì về nguyên tắc thửa đất đó vẫn thuộc quyền sử dụng của cha mẹ bạn. Nếu còn thời hiệu yêu cầu phân chia di sản thừa kế thì những người con riêng của bố được chia di sản của bố vì thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

Việc bạn là người nộp tiền sử dụng đất và thực hiện các nghĩa vụ về đất cũng không phải là căn cứ để xác lập quyền sử dụng đất thuộc về vợ chồng bạn.

Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thời hiệu thừa kế:

“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”

Thời hiệu yêu cầu phân chia di sản thừa kế với bất động sản là 30 năm, bạn đối chiếu với thời điểm bố bạn mất để xác định những người con riêng còn có quyền khởi kiện hay không. Ngoài ra Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP quy định về thời hiệu khởi kiện đối với những trường hợp mở thừa kế trước ngày năm 1996 trong đó có trường hợp mở thừa kế trước ngày Pháp lệnh thừa kế năm 1990 (ngày 10/09/1990) thì thời hiệu được tính từ ngày 10/09/1990. Nếu thời điểm này những người con riêng của bố bạn yêu cầu phân chia di sản của bố thì thời hiệu yêu cầu vẫn còn.

Sau khi đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế thì người con riêng này không còn quyền khởi kiện chia thừa kế nữa, vợ chồng bạn là người trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất từ những năm 1976 thì sẽ được tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất đó.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn về tranh chấp tài sản thừa kế là Đất đai. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí