Nguyễn Thị Hoài Thơ

Tư vấn về thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Mẹ tôi chết năm 2003. Năm 2007 ba tôi lấy vợ và có xây thêm 1 căn nhà bên cạnh ngôi nhà củ xây dựng trước năm 1990 và ba tôi chết năm 2012 vì ở quê nên không làm thừa kế hay di chúc. Bây giờ căn nhà xây dựng năm 2007 thì mẹ kế tôi đang ở, còn ngôi nhà củ thì tôi đã sữa chữa và vẫn để nguyên hiện trạng. Khu đất gần 3000m2 nay tôi cũng đã xây tường rào bao quanh.

Kính gửi quý công ty luật,Kính nhờ quý công ty tư vấn cho tôi một vấn đề sau:Tôi có một miếng đất của cha mẹ tôi sau khi qua đời để lại. Mẹ tôi chết năm 2003. Năm 2007 ba tôi lấy vợ và có xây thêm 1 căn nhà bên cạnh ngôi nhà củ xây dựng trước năm 1990 và ba tôi chết năm 2012 vì ở quê nên không làm thừa kế hay di chúc. Bây giờ căn nhà xây dựng năm 2007 thì mẹ kế tôi đang ở, còn ngôi nhà củ thì tôi đã sữa chữa và vẫn để nguyên hiện trạng. Khu đất gần 3000m2 nay tôi cũng đã xây tường rào bao quanh, không có tranh chấp gì. Tuy nhiên Giấy chứng nhận khu đất này đã mất từ lâu trước khi mẹ tôi mất, từ đó cho đến khi ba tôi chết vẫn chưa làm lại gcn. Nay tôi và mẹ kế muốn xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải làm như thế nào? Tôi và mẹ kế ai đúng tên cũng được miễn sao xin lại được giấy chứng nhận. Giữa tôi và mẹ kế không có tranh chấp gì. Xin quý công ty hướng dẩn trình tự các thủ tục để xin cấp lại gcn khu đất.Trân trọng cám ơn.With best regards

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tới Công ty Luật Minh gia chúng tôi, vấn đề bạn đưa ra chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Theo Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai quy định:

Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định

1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:

a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

...

e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;

...

i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;

k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.

4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất."

Theo thông tin bạn đưa ra: ngôi nhà cũ đã được xây trước năm 1990 mà không có giấy tờ chứng từ về đất cho đến thời điểm hiện tại và cha mẹ bạn đã mất mà không có di chúc gì. Như vậy, gia đình bạn nên yêu cầu UBND cấp xã cấp Giấy xác nhận đất không có tranh chấp và không vi phạm pháp luật, phù hợp với quy hoạch đất tại địa phương.

Ngoài ra, gia đình bạn đã ở trên mảnh đất này khá lâu nên để xác định là đất sử dụng ổn định lâu dài cần có giấy tờ chứng minh quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định nêu trên; trường hợp không có những giấy tờ nêu trên thì phải có giấy xác nhận của UBND cấp xã về thời điểm gia đình bạn bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thấp thông tin và ý kiến từ những người dân sống xung quanh gia đình bạn.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
CV tư vấn: Nguyễn Thị Hằng Nga - Luật Minh Gia

Gọi ngay