Nguyễn Thu Trang

Tranh chấp về quyền sử dụng đất thì giải quyết như thế nào?

Thực trạng tranh chấp đất đai do quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gặp phải nhiều sai sót về chủ sở hữu, về diện tích đất,... diễn ra khá phổ biến. Khi xử lý những vụ tranh chấp này, cần tìm hiểu toàn bộ quá trình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và nguồn gốc đất thế nào để có hướng xử lý phù hợp.

Khi có tranh chấp về đất đai, nhiều người không biết phải làm những gì để bảo vệ quyền lợi của mình? Trình tự, thủ tục diễn ra như thế nào? Các bước thực hiện ra sao? Với trường hợp đó cần áp dụng căn cứ pháp luật nào?

Với những vấn đề trên, bạn có thể liên hệ tổng đài của Luật Minh Gia 1900.6169 để chúng tôi có thể hỗ trợ và giải đáp những thắc mắc cho bạn. Bên cạnh đó, với đội ngũ Luật sư chuyên tư vấn về lĩnh vực đất đai, chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn những thủ tục và đề xuất phương hướng giải quyết cho bạn.

Câu hỏi tư vấn: Em nhờ quý vị luật sư bỏ chút thời gian tư vấn giùm em với ạ. Là thế này ạ. Nhà em có 1 mảnh đất  khoảng 750 m2 được ông bà nội cho từ năm 1971 vì ko có điều kiện nên chưa làm đc sổ đỏ được và mãi đến 2018 đi làm sổ đỏ thì mới phát hiện ra, địa chính đo đất năm 1985 chia đất nhà em ra làm 2 miếng 1 (405m2)  và 2 (350m2) . Và miếng đất bây giờ quy hoạch làm đường và phía dưới bên đường là miếng (330m2) ( là miếng nhà khác.)  Miếng 1 tên bố em (ông A)  miếng 2 ghi lộn tên ng khác (ông B tức chủ của miếng 3) và miếng 3 tên Bố Em (ông A). Và năm 1996 và 2015 địa chính gom đất miếng 1 và 2 lại thành 1 miếng ghi tên bố em ( ông A) nhưng đến 2018 đi làm sổ đỏ, thì ng làm sổ đỏ này là người thân ông B nên đã gọi báo ông B nộp đơn lên xã đòi đất .Và bây giờ đang xảy ra tranh chấp đất. Họ dựa vào sổ đất năm 1985 và lấy lý do ly hương làm ăn xa và nhà em và địa chính trước năm 2016 tự ý gom đất của Ông B và ông A lại thành 1 để đòi miếng đất thứ 2 nhà em. Và đất nhà em thì được dân và những người cao tuổi ký giấy xác nhận là đất nhà em ạ. Kính nhờ quý vị luật sư tư vấn giúp em ạ.  

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

Thứ nhất, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Trong trường hợp này bạn có thể làm đơn yêu cầu tra cứu thông tin hồ sơ địa chính về 2 mảnh đất rồi gửi đến Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Ủy ban nhân dân xã, đồng thời để chứng minh ba bạn là chủ sở hữu của mảnh đất thì cần phải làm thủ tục xin xác nhận của Ủy ban nhân dân xã về việc hiện tại ba bạn đang sinh sống, làm ăn ở trên chính mảnh đất này.

Thứ hai, về điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Căn cứ theo quy định tại Điều 101 Luật đất đai 2013 về việc Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

Điều kiện, thủ tục cấp giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều này được giải thích tại Khoản 1 Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP như sau:

“Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;

b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài;

c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì được công nhận theo quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.”

Như vậy, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên thì gia đình bạn sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí