Hỏi đáp pháp luật Đất đai

  • Thẩm quyền thu hồi đất và thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

    • 04/04/2016
    • Lê Thị Thảo
    • Xin chào Tôi là Trần H .Quê quán Nam Định. Xin được công ty tư vấn luật giúp đỡ tư vấn cho trường hợp sau của gia đình. Gia đình tôi có một mảnh đất sinh sống ở đó 60 năm đã được cấp sổ đỏ và mới làm lại sổ đỏ theo diện tích thực tế và đã được cấp sổ vào năm 2015.


    Hiện tại chính quyền xã muốn lấy lại một phần đất để sử dụng vào mục đích khác ,và có nói với gia đình tôi là sẽ cấp cho một mảnh đất khác có sổ đỏ tương đương với diện tích họ lấy. Chính quyền cụ thể là đích thân ông chủ tịch xã có nói với gia đình là đưa lại sổ đỏ ông ta viết giấy xác nhận cầm và giải quyết cho gia đình ,một mảnh đất khác theo vị trí thì mảnh đất mà chính quyền định cấp là trên chính đất thổ canh mà gia đình tôi đang sử dụng.Vậy cho tôi hỏi?-Chính quyền xã có chức năng thu hồi đất đã có sổ đỏ không?-Chính quyền xã có quyền cấp đất và làm sổ đỏ trên đất thổ canh không?-Nếu gia đình giao sổ đỏ cho chính quyền xã thì phải đòi hỏi giấy tờ gì để đảm bảo quyền lợi ? 

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi nội dung đề nghị tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia chúng tôi, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:


    - Thứ nhất, về thẩm quyền thu hồi đất:

    Điều 66 Luật đất đai năm 2013 quy định về thẩm quyền thu hồi đất như sau:

    " 1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

    a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

    b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

    2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

    a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

    b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

    3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất."

    Như vậy, chỉ có Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện mới có thẩm quyền thu hồi đất, trong trường hợp của bạn, Ủy ban nhân dân xã quyết định thu hồi đất là sai thẩm quyền. Bởi Ủy ban nhân dân xã không có thẩm quyền thu hồi đất.

    Bên cạnh đó, Luật đất đai năm 2013 cũng quy định cụ thể về các trường hợp thu hồi đất bao gồm: thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; thu hồi đất để phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người. Vì vậy, nếu gia đình bạn không thuộc trường hợp bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai theo quy định tại Điều 64 Luật đất đai năm 2013 thì việc Ủy ban nhân dân xã thu hồi đất như vậy là sai mục đích.

    - Thứ hai, về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

    Theo quy định tại Điều 105 Luật đất đai năm 2013, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được quy định như sau:

    “1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.

    Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

    2. Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

    3. Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ.”


    Như vậy, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện. Ủy ban nhân dân cấp xã hoàn toàn không có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Tóm lại: Ủy ban nhân dân xã không có thẩm quyền thu hồi đất và không có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nên nếu 
    chính quyền xã muốn lấy lại một phần đất của gia đình bạn để sử dụng vào mục đích khác, và có nói với gia đình bạn là sẽ cấp cho một mảnh đất khác có sổ đỏ tương đương với diện tích họ lấy là hoàn toàn sai về thẩm quyền và hoàn toàn không có căn cứ để đảm bảo Ủy ban xã sẽ cấp cho gia đình bạn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Do đó, gia đình bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi tới Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã người đã ra quyết định thu hồi đất hoặc 
    khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Luật khiếu nại năm 2011:

    " Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính."



    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Thẩm quyền thu hồi đất và thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

     

    Trân trọng!

    CV. Lê Thảo- Công ty Luật Minh Gia.

Bài viết nổi bật