Phạm Diệu

Số liệu trên sổ đỏ không khớp nhau, gặp khó khăn khi thế chấp tại ngân hàng?

Luật sư tư vấn về trường hợp khó khăn thế chấp sổ đỏ tại ngân hàng khi các số liệu trên sổ đỏ không khớp nhau. Nội dung tư vấn như sau:

Nội dung tư vấn: Xin kính chào luật Minh Gia, xin phép cho hỏi :  tôi hiện đang có 1 lô đất ở nông thôn diện tích như hình chụp. Và tôi dùng sổ bìa đỏ này để vay vốn bên ngân hàng nhưng tôi gặp 1 vấn đề đó là số liệu ghi ở mục II và số liệu ghi ở mục III không khớp nhau. Tôi có cầm sổ đỏ lên UBND Huyện để xin đính chính nhưng họ nói sổ đỏ đó không sai gì so với hồ sơ gốc được đo vào năm 1995, họ giải thích là do năm 1995 đất ở nông thôn của tôi là 256m2 là không đủ hạn mức nên họ mới chuyển 44m2 đất ao lên cho đủ hạn mức 300m2 đất ở nông thôn năm 1995 quy định. Nhưng ngân hàng cứ nói là sai cần đính chính, nhưng cơ quan chức năng có thẩm quyền thì lại nói không sai gì nên họ không đính chính. Vậy xin Luật Minh Gia chỉ cho tôi cách giải thích hợp lý dựa trên luật đất đai để tôi giải thích lại với bên pháp chế của ngân hàng. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời: Cảm ơn anh/chị đã gửi yêu cầu tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với trường hợp của anh/chị, chúng tôi tư vấn như sau:

Theo như thông tin anh/chị cho biết, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình anh/chị được cấp từ năm 1995, tại thời điểm đó Luật Đất đai 1993 đang có hiệu lực thi hành. Theo đó, tại Điều 54 Luật Đất đai 1993 quy định như sau:

Điều 54

Căn cứ vào quỹ đất đai của địa phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mức đất mà mỗi hộ gia đình ở nông thôn được sử dụng để ở theo quy định của Chính phủ đối với từng vùng nhưng không quá 400 m2; đối với những nơi có tập quán nhiều thế hệ cùng chung sống trong một hộ hoặc có điều kiện tự nhiên đặc biệt, thì mức đất ở có thể cao hơn, nhưng tối đa không vượt quá hai lần mức quy định đối với vùng đó.”

Ngoài ra, tại Điều 6 Nghị định 04/2000/NĐ-CP có ghi nhận:

Điều 6. Đất ở của hộ gia đình, cá nhân.

1. Đất ở của hộ gia đình, cá nhân là đất để xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ sinh hoạt như bếp, sân, giếng nước, nhà tắm, nhà vệ sinh, lối đi, chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhà kho, nơi để thức ăn gia súc, gia cầm, nơi để chất đốt, nơi để ôtô.

2. Hạn mức giao đất cho hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở.

a) Hạn mức giao đất cho hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở tại nông thôn. Căn cứ vào quỹ đất của địa phương, ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức đất giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân để làm nhà ở theo quy định như sau:

- Các xã đồng bằng không quá 300m2;

- Các xã trung du, miền núi, hải đảo không quá 400m2;

- Đối với những nơi có tập quán nhiều thế hệ cùng chung sống trong một hộ hoặc có điều kiện tự nhiên đặc biệt, thì mức đất ở có thể cao hơn, nhưng tối đa không vượt quá hai lần mức quy định đối với vùng đó.

b) Hạn mức giao đất cho hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở tại đô thị thực hiện theo dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Trong trường hợp chưa có đủ điều kiện để giao đất theo dự án, thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất của địa phương để quy định mức giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân tự xây dựng nhà ở theo đúng quy hoạch đô thị và tiêu chuẩn quy phạm thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị.

3. Hạn mức giao đất quy định tại khoản 2 Điều này chỉ áp dụng cho những trường hợp giao đất mới để làm nhà ở, không áp dụng cho những trường hợp đang sử dụng đất ở có trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

Như vậy, Luật Đất đai 1993 và Nghị định 04/2000/NĐ-CP chỉ ghi nhận mức giao đất cho hộ gia đình, cá nhân để làm nhà ở ( theo điểm a Khoản 2 Điều 6 Nghị định 04/2000/NĐ-CP). Tuy nhiên, anh/chị cần xem lại chính sách công nhận hạn mức đất ở của địa phương anh/chị tại thời điểm đó. Trường hợp, tại thời điểm đó, địa phương của anh/chị có chính sách được chuyển phần diện tích còn thiếu để đủ hạn mức là 300m2 đất ở nông thôn, trong trường hợp này anh/chị có thể xin xác nhận bên phòng Đăng ký đất đai thuộc Ủy ban nhân dân cấp quận (huyện) để gửi qua ngân hàng.

Trường hợp, tại thời điểm năm 1995 ở địa phương anh/chị không có chính sách được phép chuyển phần diện tích còn thiếu để đủ hạn mức là 300 m2 đất ở nông thôn thì trường hợp này bên Phòng đăng ký đất đai tại thời điểm đó đã thực hiện không đúng quy định của pháp luật. Vì thế, trong trường hợp này bắt buộc phải làm thủ tục đính chính lại thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề anh/chị hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, anh/chị vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.

CV tư vấn: Phạm Diệu - Luật Minh Gia

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí