Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Luật sư tư vấn về giải quyết tranh chấp đất vườn ao

tranh chấp đối với đất vườn ao bị lấn chiếm sau khi Nhà nước thu hồi đất

Nội dung đề nghị tư vấn:
 
Nhà tôi có 1 thửa đất ao,trong đó có 200m2 đã chuyển thành đất ở năm 1997.trên bìa đỏ chỉ ghi diện tích đất ở,còn đất vườn,và ao thi ko ghi (hầu hết các gia đình đều thế). Năm 2001 Nhà nước thu hồi để nâng cấp quốc lộ. Đã đo đạc,đền bù và giải phóng mặt bằng xong. Sau khi giải phóng xong nhà tôi còn lại 185m2 toàn bộ là đất ao. Có bản đồ mảnh thửa đất của xã cấp. Đất nhà tôi 2 chiều tiếp giáp Quốc lộ.Còn 2 chiều tiếp giáp nhà hàng xóm. Ông hàng xóm xin tôi cho đổ đất của nhà ông đánh từ trên đồi xuống ao.tôi nhất trí.Trong lúc tôi đi vắng ông đã xây tường rào từ dưới đáy ao nhà tôi lên.Đất nhà tôi hiện nay đã bị lấn chiếm mất 50m2. Tôi làm đơn , xã đến làm việc,ông hàng xóm yêu cầu đo đất nhà ông cho đủ theo giấy tờ nhà ông đã nếu thừa ra ông mới trả,và ông ko chấp nhận tờ bản đồ kia (ông mới làm bìa năm 2006,ko có tôi kí giáp danh).Cán bộ xã cũng nghe theo.Làm như vậy có đúng không? Hoặc tôi phải làm gì. Xin cám ơn luật sư.
 
 Trả lời tư vấn:

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn tới công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:
 
Theo như bạn trình bày thì nhà bạn có 185m2 là đất ao, có bản đồ mảnh, thửa đất của xã cấp như vậy bạn là chủ sử dụng hợp pháp của mảnh đất đó. Do sau đó bạn đồng ý để ông hàng xóm đổ đất nhờ xuống ao và khi đi vắng thì bị ông xây tường rào từ dưới đáy lên và bị lấn chiếm mất 50m2. Trong khi đất nhà ông hàng xóm được làm bìa năm 2006 sau gia đình nhà bạn 5 năm. Khi cán bộ xã đến thì lại đồng tình làm theo cách đo đất nhà ông hàng xóm cho đủ, nếu thừa ra mới trả lại cho bạn thì trong trường hợp này bạn là người có quền sử dụng hợp pháp đối với mảnh đất đó nên việc nói “nếu thừa ra mới trả” của ông hàng xóm là không hợp lý, cũng có nghĩa là việc làm theo của cán bộ xã là sai.
 
Trong trường hợp này khi cán bộ xã làm theo lời của ông hàng xóm nếu khi tiến hành đo mà kết quả là bạn bị chiếm mất 50m2 đất ao không đúng với quyền sử dụng đất mà bạn đã được Nhà nước công nhận và hiện đất đang có tranh chấp nên bạn có thể : tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai để yêu cầu ông hàng xóm trả lại phần đất đã lấn chiếm của bạn:

"Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa
phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."
 Nếu không hòa giải được thì bạn sẽ làm theo điều 203 đó là lực chọn khởi kiện ra tòa án hoặc giải quyết tranh chấp tại ủy ban nhân dân để đòi lại phần đất đã bị lấn chiếm trái pháp luật:
"Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại
khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành”

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Luật sư tư vấn về giải quyết tranh chấp đất vườn ao. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng!

CV: Ngọc Anh - Công ty Luật Minh Gia

Hotline: 1900.6169