Cà Thị Phương

Giải quyết tranh chấp đất đai và quyền yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai

Trường hợp tranh chấp đất đai không có giấy tờ thì giải quyết như thế nào? Người sử dụng đất có quyền yêu cầu cung cấp thông tin về đất đai như thế nào?

 Nội dung yêu cầu tư vấn: Kính chào Luật sư, tôi được nhà nước giao 3 sào ruộng để canh tác và 1000m3 đất để khai hoang làm rẫy từ năm 1989, đến năm 1993 theo quy định của nghị định 64 thì được chuyển thành đất nông nghiệp sử dụng lâu dài. Tôi sử dụng ổn định và thực hiện các chính sách thuế đầy đủ từ năm 1989 đến 1994 thì tôi đi lấy chồng,  cho chị tôi sử dụng mảnh đất trên 1000m3 và em gái tôi sử dụng 3 sào ruộng. Chị gái tôi sử dụng mảnh đất đến năm 2000 vì lí do kinh tế nên không sử dụng mảnh đất đó nữa. Và để hoang từ đó cho đến nay. Các mảnh đất xung quanh điều bỏ hoang giống mảnh đất của tôi cho đến nay. 

Năm 2003, 2013, thực hiện Luật đất đai để đi đo đạc chỉnh lí hồ sơ địa chính thì tôi không có mặt để đo đất vì tôi không còn ở địa phương nữa nhưng tôi cũng không nhận được thông báo từ chính quyền. Thời gian vừa rồi tôi được người quen cung cấp thông tin rằng tên của tôi vẫn còn trên tờ bản đồ địa chính nên tôi muốn sử dụng lại mảnh đất nói trên nhưng không hiểu sao lại có một căn nhà mọc trên đất của tôi. ( có quen biết với UB nên được xây nhà trái PL).  Tôi có làm đơn khởi kiện hành vi xây nhà trái phép trên đất nông nghiệp của chủ căn nhà đó đến Chủ tịch UBND Xã, yêu cầu trả lại mảnh đất đồng thời trong đơn kiện là chữ kí và xác nhận của các chủ sở hữu các thửa đất xung quanh là tôi được cấp đồng thời với họ và sử dụng mảnh đất đó.
 Tôi được mời lên 2 lần làm việc với sự có mặt của ban địa chính xã, hộ gia đình bên kia.Tại biên bản làm việc  thì bên phía địa chính xã có hỏi tôi rằng có tài liệu chứng minh gì không thì tôi trả lời là hồ sơ mảnh đất của tôi nằm ở địa chính xã. Bên gia đình kia hoàn toàn không cung cấp được tài liệu chứng minh.  Bên phía địa chính hỏi tại sao năm 2003 và năm 2013 tôi không có mặt để chia đất thì tôi trả lời rằng tôi không nhận được thông báo từ chính quyền. Do quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban không trả lời nên tôi có làm đơn gửi UBND tỉnh, sở tài nguyên và môi trường và tôi cùng UBND xã điều nhận được văn bản từ 2 cơ quan trên với nội dung yêu cầu UBND xã giải quyết việc đất nông nghiệp của tôi bị chiếm xây nhà trái phép. Vừa rồi tôi nhận được văn bản trả lời từ Chủ tịch UBND xã về trường hợp trên thì nội dung trả lời cụ thể là đơn kiện của tôi không có cơ sở vì các lí do nêu  như sau: 


Thứ nhất căn cứ điểm h, khoản 1 điều 64 luật đất đai 2013 ( điều này có nội dung là thu hồi đất nông nghiệp không sử dụng trong các khoản thời gian) là không có cơ sở bởi vì tôi không nhận được thông báo thu hồi đất nào cả và tên của tôi cũng còn nằm trên bản đồ địa chính nên tôi cho rằng căn cứ không hợp pháp.  Thứ 2 UBND xã có gửi thông báo yêu cầu HTX nông nghiệp xã xác nhận năm 1993 không chia đất cho tôi. Điều này tôi cho rằng không đúng bởi vì nhà nước cấp đất cho tôi từ năm 1989. Tôi sử dụng đến năm 1994. Và hiện tại 3 sào ruộng của tôi em gái tôi vẫn còn sử dụng, mặc khác về phía 3 sào ruộng thì chính quyền còn chuyển quyền sở hữu từ tên tôi sang tên em gái tôi. Thứ 3 từ năm 2000 đến nay nhà nước không có chủ trương chia ruộng đất nào (điều này tôi không hiểu). Thứ 4 tôi không cung cấp được tài liệu chứng minh trong các biên bản làm việc. (theo như tôi trình bày ở trên là hồ sơ nằm ở địa chính xã). 


Vậy  trong văn bản trả lời không nhắc đến và giải thích thông tin của tôi trên tờ địa chính mà căn cứ các điều trên và trả lời đơn khởi kiện của tôi không có cơ sở là có đúng không thưa Luật sư? Theo như tôi tìm hiểu thì để lấy được tài liệu liên quan đến thửa đất thì phải biết được số thửa đất mới gửi đơn yêu cầu tra cứu đất đai có đúng không thưa Luật sư?  Bây giờ tôi phải làm sao để biết được số thửa đất trong khi địa chính và chính quyền địa phương không nhắc đến thông tin trên nội dung đơn kiện và cho rằng đơn khởi kiện của tôi không có cơ sở?


Mong Luật sư tư vấn về trường hợp của tôi để lấy lại mảnh đất nói trên.


Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo thông tin cung cấp thì gia đình bạn được nhà nước giao đất năm 1989 với diện tích là 3 sào ruộng và 1000m2 để khai hoang làm rẫy, mặc dù chưa có giấy chứng nhận nhưng hồ sơ địa chính, sổ mục kê vẫn thể hiện thửa đất đang do gia đình bạn sử dụng. Do đó, việc hộ gia đình khác tự ý xây dựng công trình nhà ở trái phép trên đất nông nghiệp của gia đình là trái với quy định pháp luật về đất đai và để đảm bảo quyền lợi gia đình có quyền làm đơn gửi Uỷ ban nhân dân xã để yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, nếu việc hòa giải không thành thì làm đơn khiếu nại lên ủy ban nhân dân huyện hoặc khởi kiện trực tiếp ra Tòa theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013 quy định:

Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.


“Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai


Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:


1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;


2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:


a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;


b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;


3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:


a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;


b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;


4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành”.


Như vậy, đối chiếu với quy định trên thì khi bạn làm đơn yêu cầu UBND xã giải quyết thì UBND phải tiến hành tổ chức buổi hòa giải cho bạn và người lấn chiếm xây dựng trên đất của bạn và phải lập biên bản cuộc hòa giải. Theo đó, việc UBND xã không tổ chức hòa giải mà chỉ trả lời bằng văn bản cho gia đình sau khi có đơn khiếu nại và đưa ra những căn cứ trên để từ chối giải quyết là không có căn cứ, không phù hợp với quy định pháp luật.

Tuy nhiên, bạn cần lưu ý đối với mảnh đất nông nghiệp bạn không sử dụng trong nhiều năm như vậy thì mảnh đất này có thể bị thu hồi căn cứ theo điểm h, Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013.


Thứ hai, về việc yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến thửa đất.


Căn cứ tại Điều 11 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT quy định:


"Điều 11. Khai thác dữ liệu thông qua phiếu yêu cầu hoặc văn bản yêu cầu


1. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác dữ liệu đất đai nộp phiếu yêu cầu hoặc gửi văn bản yêu cầu cho các cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai theo Mẫu số 01/PYC được ban hành kèm theo Thông tư này.


2. Khi nhận được phiếu yêu cầu, văn bản yêu cầu hợp lệ của tổ chức, cá nhân, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai thực hiện việc cung cấp dữ liệu cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu khai thác dữ liệu. Trường hợp từ chối cung cấp dữ liệu thì phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.


3. Việc khai thác dữ liệu thông qua phiếu yêu cầu hoặc văn bản yêu cầu được thực hiện theo các quy định của pháp luật".


“Điều 15. Cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai


1. Cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai ở Trung ương là Trung tâm Dữ liệu và Thông tin đất đai thuộc Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường.


2. Cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai ở địa phương là Văn phòng đăng ký đất đai.
Đối với địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, Văn phòng đăng ký đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp dữ liệu đất đai từ hồ sơ địa chính theo phân cấp quản lý hồ sơ địa chính”.


Như vậy, mặc dù bạn không có thông tin về thửa đất nhưng bạn vẫn có thể gửi phiếu yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai tại Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã để đề nghị những cơ quan này cung cấp thông tin về mảnh đất cho bạn để làm căn cứ giải quyết tranh chấp.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
CV tư vấn: Trần Thị Thìn - Luật Minh Gia 

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí