Phạm Diệu

Chuyển nhượng đất khi đất là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của hộ gia đình?

Luật sư tư vấn về điều kiện để chuyển nhượng đất khi đất là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của hộ gia đình. Nội dung tư vấn như sau:

Gia đình e có 1 mảnh đất lúc trước được bà nội cho và đã sang tên sang hộ gia đình e,bà hộ khẩu riêng. Sau này đã nhập bà vào hộ khẩu của gia đình e trước khi làm lại sổ đỏ nên bây giờ muốn bán cần có chữ kí của bà.nhưng bà không đồng ý vậy gia đình e có thể gởi đơn ra toà yêu cầu chia tài sản phần đất đó không? Trong thời gian gia đình e không sinh sống trên mảnh đất đó thì cô của em và bà (lúc đó bà chưa nhập vào hộ khẩu nhà em) có xây nhà và hiện sinh sống trên mảnh đất ấy. E muốn hỏi là gia đình e có thể kiện cô e chiếm dụng và xây dựng trái phép được không? Nếu được thì cần những giấy tờ gì? Mong luật sư tư vấn giúp e! E xin chân thành cảm ơn!

Trả lời: Cảm ơn anh/chị đã gửi yêu cầu tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với trường hợp của anh/chị, chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ tại Điều 212 Bộ luật dân sự 2015 quy định về sở hữu chung của các thành viên gia đình như sau:

“1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

 2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.

 Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này”.

Tại Điều 219 Bộ luật dân sự 2015 về chia tài sản thuộc sở hữu chung:

Điều 219. Chia tài sản thuộc sở hữu chung

1. Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Theo như thông tin anh/chị cho biết và căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp mảnh đất trên đã sang tên cho hộ gia đình thì các thành viên trong gia đình đều có quyền đối với mảnh đất đó. Khi tiến hành chuyển nhượng tất cả các thành viên trong gia đình phải đồng ý ký vào văn bản chuyển nhượng thì hợp đồng chuyển nhượng đó mới có giá trị pháp lý. Theo đó, trường hợp bà nội anh/chị không đồng ý ký chuyển nhượng thì hợp đồng chuyển nhượng giữa bên mua và bên bán không có giá trị pháp lý.

Trường hợp cả gia đình không thỏa thuận và thống nhất được về việc định đoạt tài sản chung thì gia đình anh/chị có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận (huyện) yêu cầu phân chia tài sản thuộc sở hữu chung.

Còn đối với trường hợp người cô, khi chưa có sự đồng ý của gia đình anh/chị đã tự ý xây nhà và sinh sống tại mảnh đất thuộc quyền sở hữu của gia đình thì anh/chị có thể thông báo với chính quyền địa phương hoặc làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp người cô có hành vi chiếm dụng và xây dựng nhà trái phép trên phần đất thuộc quyền sở hữu chung của gia đình anh/chị thì có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai. Trường hợp nếu có dấu hiệu hình sự thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép tài sản hoặc tội sử dụng trái phép tài sản theo quy định tại Bộ luật hình sự 1999.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề anh/chị hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, anh/chị vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.

CV tư vấn: Phạm Diệu - Luật Minh Gia

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí