Bùi Hoài My

Chồng không có mặt ở Việt Nam thì khi mua đất và đăng ký GCNQSDĐ có cần chữ ký vợ, chồng?

Luật sư tư vấn về vấn đề: Chồng đi làm ở nước ngoài, vợ, chồng muốn mua đất tại Việt Nam thì có thực hiện việc mua đất và đăng ký GCNQSDĐ đứng tên vợ và chồng được không?

Nội dung tư vấn:  Chào Luật sư ạ! Em hiện đang đi lao động ở nước ngoài. Vợ, chồng em tích cóp được ít vốn nay muốn mua miếng đất để ở. Theo em được biết thì khi giao dịch đất đai phải đứng tên cả 2 vợ, chồng. Hiện tại điều kiện của em không thể về ngay được. Vậy em xin được hỏi là em không có mặt thì có thực hiện được việc mua đất và đăng kí giấy chứng nhận sử dụng đất đứng tên cả 2 vợ, chồng em không ạ? Mong văn phòng tư vấn giúp em! Em xin cảm ơn!

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Gia. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

 

Điều 24 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng:

 

“1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

 

2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng”.

 

Và Điều 33 Luật này cũng quy định: “…Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

 

Theo quy định pháp luật nêu trên, vợ chồng có thể đại diện cho nhau xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch theo thỏa thuận. Và những tài sản được xác lập sau khi kết hôn thì được coi là tài sản chung của vợ chồng.

 

Vì vợ, chồng bạn không thể cùng nhau thực hiện giao kết hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì có thể thỏa thuận một người đứng ra đại diện ký kết hợp đồng nhận chuyển nhượng với chủ đất.

 

Còn việc ghi tên trên Giấy chứng nhận QSDĐ thì khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai 2013 có quy định: “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người. Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.…”

 

Theo đó, đối chiếu trường hợp của bạn khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ phải ghi tên của cả hai vợ chồng bạn vào Giấy chứng nhận. Trừ trường hợp hai vợ, chồng có thỏa thuận vợ hoặc chồng là người đại diện đứng tên trên Giấy chứng nhận, đây vẫn là tài sản chung của hai vợ chồng.

 

Gọi ngay