Đào Quang Phong

Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai đối tượng thì xử lý thế nào?

Gia đình được cấp đất rừng sản xuất từ năm 1993. Năm 2009 cho cháu mượn đất để trồng keo 2,7ha. Năm 2019 làm sổ đỏ rừng thì mới biết diện tích 2,7 ha đó, cháu tôi đã làm sổ đỏ đứng tên cháu. Hiện tại không còn giữ sổ xanh, chỉ còn lưu lại ở UBND xã, bản đồ cũ cũng có diện tích toàn bộ nhà tôi. Hỏi giờ tôi phải xử lý như thế nào?

Nội dung tư vấn:

Tôi có vấn đề cần nhờ luật sư tư vấn. Gia đình tôi được cấp đất rừng sản xuất từ năm 1993, diện tích 5,6 ha đến năm 2009 Có cháu tôi trồng keo vào giữa khu đất diện tích 2,7ha. Vì là con cháu nên tôi để cháu trồng xen canh những cây tôi trồng, đến năm 2019 tôi làm sổ đỏ rừng thì mới biết diện tích 2,7ha đó,cháu tôi đã làm sổ đỏ mang tên cháu tôi rồi.Hồ sơ thì tôi không giữ được sổ xanh năm 1993, chỉ còn lưu lại ở UBND xã, bản đồ cũ cũng có diện tích toàn bộ nhà tôi, ý kiến khu dân cư cũng công nhận toàn bộ 5,6ha là của gia đình tôi.Vậy tôi hỏi? Giờ phải xử lý như thế nào? Trong khi cháu gái và cháu rể tôi đã làm sổ đỏ vào phần đất đó.Tôi xin trân thành cảm ơn.

 

Trả lời tư vấn: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Sổ xanh là giấy xác nhận cho thuê đất lâu dài của Lâm Trường; khi sổ xanh hết hạn, đất đó có thể sẽ bị Lâm Trường thu hồi nếu như địa phương đó chưa có chính sách giao đất cho người dân.

 

Trong trường hợp bạn muốn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bạn phải thuộc các trường hợp được quy định.

 

Theo quy đinh tại Khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai 2013

 

Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

 

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất

 

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

 

 b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

 

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

 

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

 

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

 

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

 

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.”

 

Như vậy nếu đối chiếu các trường hợp được nêu trong quy định trên mà bạn có đủ điều kiện thì bạn hoàn toàn có quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

 

Trong trường hợp bạn đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên để xin công nhận quyền sử dụng đất và có căn cứ về việc cấp sai đối tượng người sử dụng đất thì bạn có quyền gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền xem xét việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp cho cháu của bạn theo Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013 và cấp lại Giấy chứng nhận phù hợp

 

Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

 

2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

 

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

 

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

 

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

 

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

 

3. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí