Hỏi đáp pháp luật Đất đai

  • Cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ theo bản án, quyết định của Tòa án

    • 06/08/2020
    • Lê Văn Chức
    • Cần những điều kiện gì để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai? Bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật có được xem là có căn cứ, giấy tờ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? … Luật Minh Gia tư vấn các vấn đề trên như sau:

    1. Luật sư tư vấn về pháp luật đất đai

    Đất đai luôn được coi là tài sản quan trọng bậc nhất của mỗi người, cũng chính vì vậy, hiện nay pháp luật nước ta chú trọng trong việc công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Để có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bạn cần đáp ứng các điều kiện nhất định theo Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn liên quan. Nếu bạn đang muốn thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chưa hiểu các thủ tục, giấy tờ cần thiết hãy liên hệ với Luật Minh Gia để được tư vấn.

    Để liên hệ với Luật Minh Gia, bạn có thể đặt câu hỏi bằng việc gửi Email cho công ty hoặc gọi Hotline: 1900.6169 để được các luật sư nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này hướng dẫn tư vấn.

    Ngoài ra, bạn có thể tham khảo tình huống tư vấn dưới đây để có thểm thông tin và đối chiếu với tình huống của mình.

    2. Hỏi về giấy tờ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

    Câu hỏi: Nhờ luật sư tư vấn giúp về cấp sổ đỏ theo quyết định, bản án của tòa như sau: Gia đình tôi có 150m2 đất, sau nhiều năm tranh chấp,kiện tụng, nay  toà án tuyên gia đình tôi được quyền sở hữu thửa đất đó. Xin LS cho tôi hỏi: Tôi muốn được cấp giấy CN QSD đất cho thửa đất này thì phải làm gì? Giấy đăng ký có cần nộp cho UB phường không? Phường có phải niêm yết hồ sơ của tôi trước công chúng 15 ngày không?

    Có phải ký giới cận không khi bản án tuyên có kèm trích lục bản đồ thửa đất của hội đồng định giá? Hội đồng định giá đã lấy giá đất ở của UBND tỉnh để định giá cho thửa đất này làm căn cứ cho án phí thì bây giờ đất của tôi có được là đất ở không? Rất mong Công ty luật Minh Gia và Luật sư trả lời căn kẻ để giúp cho gia đình tôi. Xin chân thành cảm ơn.

    Nội dung tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi nội dung tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia, với những thắc mắc của bạn, chúng tôi xin đưa ra ý kiến tư vấn như sau:

    Theo quy định tại Khoản 3 Điều 100 Luật Đất đai 2013 về Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định như sau:

     “3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.”

    Theo quy định trên, thì gia đình bạn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Bạn có thể đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện để tiến hành thủ tục, nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và mang theo các giấy tờ sau: Bản án của tòa sơ thẩm; đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bản sao chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu.

    Việc nộp hồ sơ xin cấp giáy chứng nhận quyền sử dụng đất, chị có thể nộp tại UBND phường theo quy định tại Điều 60, Nghị định 43/2014/NĐ-CP

    Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có nhu cầu nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả. Trường hợp đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp xã phải chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai”.

    Theo quy định tại Khoản 2, Điều 70, Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định:

    “ 2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đề nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc như sau:

    a) Trường hợp đăng ký đất đai thì xác nhận hiện trạng sử dụng đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch.

    Trường hợp đăng ký tài sản gắn liền với đất thì xác nhận hiện trạng tài sản gắn liền với đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định này thì xác nhận tình trạng tranh chấp quyền sở hữu tài sản; đối với nhà ở, công trình xây dựng thì xác nhận thời điểm tạo lập tài sản, thuộc hay không thuộc trường hợp phải cấp phép xây dựng, sự phù hợp với quy hoạch được duyệt; xác nhận sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng nếu chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ

    b) Trường hợp chưa có bản đồ địa chính thì trước khi thực hiện các công việc tại Điểm a Khoản này, Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo cho Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện trích đo địa chính thửa đất hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có);

    c) Niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong thời hạn 15 ngày; xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai và gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai.”

    Như vậy, theo quy định trên, gia đình bạn khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND phường sẽ có trách nhiệm niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, nguồn gốc, tình trạng tranh chấp, thời điểm sử dụng đất của gia đình chị trong thời hạn 15 ngày tại UBND phường, khu dân cư – nơi có mảnh đất chị đang cần cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Nếu đã có bản đồ địa chính rồi thì UBND phường chỉ cần kiểm tra lại bản trích đo địa chính thửa đất đó.

    Việc xác định diện tích đất của bạn có phải là đất ở hay không? Bạn cần xem xét lại bản án của Tòa án khi giải quyết tranh chấp đất đai cho gia đình bạn và được xác định theo quy định tại Điều 103, Luật đất đai

    Điều 130. Xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao

    1. Đất vườn, ao của hộ gia đình, cá nhân được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất đang có nhà ở.

    2. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

    Trường hợp trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này chưa xác định rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận không phải nộp tiền sử dụng đất được xác định bằng không quá 05 lần hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.

    3. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

    4. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và
    người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định như sau:

    a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện, tập quán tại địa phương quy định hạn mức công nhận đất ở cho mỗi hộ gia đình phù hợp với tập quán ở địa phương theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình;

    b) Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở tại địa phương;

    c) Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.

    5. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức quy định tại khoản 4 Điều này; trường hợp đất đã sử dụng ổn định kể từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.

    6. Phần diện tích đất vườn, ao còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 của Điều này thì được xác định sử dụng vào mục đích hiện trạng đang sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này.

    7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ theo bản án, quyết định của Tòa án. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn luật Đất đai để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

    Hotline: 1900.6169