Bùi Hoài My

Vay nợ mất khả năng thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Vay nợ mất khả năng thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Có phải là lừa đảo không? Trong trường hợp người vay không trả được nợ thì giải quyết như nào? Luật Minh Gia tư vấn như sau:

1. Luật sư tư vấn về vấn đề vay tiền

Vay tiền không có khả năng trả nợ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Đây là câu hỏi mà rất nhiều người đang vướng mắc. Đa phần khi gặp trường hợp này bên vay thường có tâm lý hoang mang, lo lắng về việc có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Việc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn xuất phát từ nhiều lý do khác nhau. Nếu bạn đang có vướng mắc về vấn đề này, chưa biết giải quyết như thế nào thì hãy liên hệ tới Luật Minh Gia, luật sư sẽ giải đáp mọi thắc mắc liên quan đến vấn đề này của bạn.

Để được hộ trợ, tư vấn bạn vui lòng gửi câu hỏi hoặc Gọi: 1900.6169, ngoài ra bạn có thể tham khảo thêm tình huống Luật Minh Gia tư vấn dưới đây để có thêm kiến thức về pháp luật.

2. Vay tiền mất khả năng thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Câu hỏi: Luật sư cho hỏi trường hợp vay tiền nhưng mất khả năng thanh toán có phải chịu TNHS hay không, cụ thể như sau: Tôi và vợ tôi có vay và mua hàng trả góp của tất cả 3 bên hỗ trợ tài chính là A, B và C. Cụ thể vợ tôi vay (1)25tr bên A 24tháng ( đến nay đã trả 12 kì) (2) 30tr bên B 24 tháng mới đây và đã trả 1 kì (3) mua xe trả góp 9 tháng qua hẹn 10 hôm chưa trả kì nào.Tôi có vay (1) 10tr bên B 24 tháng ( trả đc 2 kì). Mới mua điện thoại trả góp bên A 12 tháng chưa trả kì nào.

Vì gia đình làm ăn bị thua lỗ nặng nên hiên tại chưa thanh toán tiếp được 1 khoản nào cho các bên .Nếu mất khả năng thanh toán ít nhất 2,3 tháng nữa. Thì vợ chồng tôi có bị truy tố hình sự?? Có bị gọi là lừa đảo,??? Và xin các luật sư tư vấn để tránh tình trạng nặng nề nhất ạ.. Xin cảm ơn.

Trả lời: Chào bạn, Trước hết, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc của mình đến công ty chúng tôi. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Bộ luật dân sự quy định về nghĩa vụ của bên mua tài sản và nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

 Với quan hệ mua bán tài sản sẽ làm phát sinh nghĩa vụ trả tiền:

Điều 440. Nghĩa vụ trả tiền

1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.

2. Trường hợp các bên chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản thì thời hạn thanh toán tiền cũng được xác định tương ứng với thời hạn giao tài sản. Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản và thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tại thời điểm nhận tài sản.

3. Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này.

Với hợp đồng vay tài sản thì phát sinh nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, theo như các quy định trên thì vợ chồng bạn có nghĩa vụ trả những khoản tiền đã nợ của tất cả 3 bên hỗ trợ tài chính là A, B, C và số tiền còn lại khi mua trả góp chiếc xe trả góp 9 tháng do vợ bạn mua và chiếc điện thoại do bạn mua trả góp bên home credit 12 tháng theo sự thỏa thuận giữa em vợ chồng bạn và bên hỗ trợ tài chính, bên mua trả góp về thời điểm trả tiền cũng như số tiền phải trả.

Nếu vợ chồng bạn không trả số tiền hoặc không trả đủ số tiền đã vay khi đến hạn thì các công ty sẽ có quyền khởi kiện vợ chồng bạn tới cơ quan tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, buộc em vợ chồng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, bạn không nói rằng các khoản vay mà vợ chồng bạn đã vay ở A, B, C và mua trả góp xe và điện thoại khi nào sẽ đến hạn? Nếu hiện tại chưa đến hạn thanh toán thì sẽ không bị coi là vi phạm hợp đồng các công ty sẽ không có quyền khởi kiện và ngược lại.

Về việc hành vi của vợ chồng bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì cơ quan điều tra cần phải làm rõ hành vi của vợ chồng bạn có đầy đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không. Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Như vậy, để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì cần có các dấu hiệu cơ bản: có hành vi gian dối, tức đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội và chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Với trường hợp của bạn, do thông tin bạn đưa ra không đầy đủ nên cần căn cứ vào những yếu tố sau:

+ Khi vợ chồng bạn giao kết hợp đồng vay nợ đối với 3 bên hỗ trợ tài chính là A, B, C và  khi giao kết hợp đồng mua bán tài sản trả góp, vợ chồng bạn có cung cấp thông tin xác thực không? (xác định có hành vi lừa dối hay không) cho bên bán hay bên nhận trả góp ví dụ như mục đích của việc vay tài sản, thông tin, giấy tờ như số chứng minh thư, họ tên, địa chỉ, nơi công tác…Nếu những thông tin này là trung thực, chuẩn xác thì vợ chồng bạn không có hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 BLHS và ngược lại.

+ Tiếp theo cần căn cứ vào việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ của vợ chồng bạn. Vợ chồng bạn hiện tại không còn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đối với các bên tài hỗ trợ tài chính và bên nhận mua hàng trả góp ít nhất 2,3 tháng nữa và liệu vợ chồng bạn có thể hiện ý chí muốn thực hiện hoàn chỉnh nghĩa vụ thanh toán nợ nữa không? Nếu vợ chồng bạn trốn nợ hoặc cố ý không trả nợ mặc dù có khả năng thanh toán…thì đương nhiên đây có thể coi là căn cứ để cấu thành tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản và ngược lại, nếu vợ chồng bạn không trả được nợ là do mất khả năng trả nợ thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.

Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Do vậy, nếu rơi vào trường hợp bạn bỏ trốn, dùng thủ đoạn gian dối hoặc có đủ điều kiện trả nhưng cố tình không trả số tài sản đã vay thì có thể cấu thành tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Tóm lại, việc vợ chồng bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không cần căn cứ vào những nội dung cụ thể của sự việc để xác định. Mặc dù vậy, theo đánh giá của chúng tôi, mục đích của bên bán cũng như bên nhận trả góp chỉ là thu hồi số nợ của bạn chứ họ không ý định tố cáo để buộc bạn phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, vợ chồng bạn nên cố gắng thanh toán số tiền còn lại cho họ để tránh những rắc rối không đáng có về mặt pháp lý. Chẳng hạn vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với ngân hàng gia hạn hợp đồng để bạn có thêm thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình hoặc thỏa thuận về việc trả góp khoản nợ thay vì trả một lần theo yêu cầu của tổ chức cho vay.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Vay nợ mất khả năng thanh toán có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Nếu còn vướng mắc, chưa rõ bạn liên hệ luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Gọi ngay