Trần Phương Hà

Tư vấn về việc chia đất do ông bà để lại

Chào luật sư, tôi muốn hỏi nhà tôi có 2 mảnh đất: một mảnh có ông bà nội tôi và bố mẹ chồng tôi ở nhưng vì ông bà và bố mẹ chồng tôi không hợp nhau nên ông bà nội tôi xin xã cấp cho một mảnh đất thứ hai năm 1984 và bà nội tôi ra ở mảnh đất thứ hai đó. Bố mẹ chồng tôi sinh ra hai con trai: đó là chồng tôi và một anh trai. Năm 1998 bố chồng tôi qua đời vì bệnh hiểm nghèo.
Câu hỏi: Năm 2000 và năm 2002 ông bà nội tôi cũng ra đi. Mảnh đất 1 của tổ tiên chia đều cho hai con trai do mẹ chồng tôi chia đều. Năm 2000 anh trai chồng lấy vợ, năm 2003 anh trai chồng tôi có làm sổ đỏ mảnh đất thứ hai đứng tên anh với số mét là 50 mét chạy dài. Trong thời gian làm sổ đỏ em trai là chồng tôi chưa lập gia đình còn ở chung hộ khẩu. Hỏi người em trai là chồng tôi đươc hưởng bao nhiêu mét trong số 50 mét đất chạy dài đó? Mẹ chồng tôi giao toàn quyền cho hai anh em tự giàn xếp với nhau  nhưng người anh trai tham lam không muốn cho em và bảo chỉ cho là 10 mét. Vậy hỏi em trai về pháp luật được bao nhiêu mét và về gia đình được bao nhiêu mét? Mong luật sư tư vấn quy định về trường hợp này. Tôi xin cảm ơn.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn công ty tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, mảnh đất thứ nhất bố mẹ chồng bạn ở, mảnh đất thứ hai ông bà nội bạn ở. Tuy nhiên bạn không đề cập đến việc hai mảnh đất đó có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không. Do vậy, chúng tôi tư vấn như sau:

Với mảnh đất thứ nhất, mẹ chồng bạn đã chia đều cho hai anh em.

Đối với mảnh đất thứ hai của ông bà: có 2 trường hợp:

Trường hợp 1: Nếu mảnh đất ấy có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì khi ông bà chết mà không để lại di chúc thì sẽ được chia thừa kế theo pháp luật.

Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005 quy định như sau:
“Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Như vậy, anh chồng bạn và chồng bạn thuộc hàng thừa kế thứ hai theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này (cháu ruột của người chết mà người chết là ông bà nội). Mà theo quy định tại khoản 2 Điều này thì chồng bạn và anh trai bạn sẽ được hưởnh phần di sản bằng nhau, tức là 50m đất đó chia đôi, mỗi người được 25m.

Trường hợp 2: Nếu mảnh đất ấy chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc anh chồng bạn đi làm sổ đỏ cho mảnh đất ấy là hợp pháp. Theo đó, sổ đỏ đã đứng tên anh trai bạn tức là mảnh đất ấy thuộc quyền sở hữu và sử dụng của anh trai bạn.
Do vậy, anh chồng bạn có toàn quyền đối với mảnh đất, và như thế chồng bạn không có quyền lợi gì với mảnh đất, thậm chí nếu anh chồng bạn không cho tí đất nào cũng không sai luật.
Trong trường hợp này, bạn và chồng bạn nên thương lượng với anh chồng bạn để được quyền lợi tốt nhất có thể từ mảnh đất.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn về việc chia đất do ông bà để lại. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng


Luật gia: Việt Hà - Công ty Minh Gia
Hotline: 1900.6169