Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Tư vấn về trường hợp không trả được tiền vay và bị chủ nợ đe dọa.

Luật sư tư vấn về trường hợp không trả được tiền vay và bị quá hạn vay, bị chủ nợ đe dọa phát tán thông tin lên facebook. Nội dung tư vấn cụ thể như sau:

Nội dung tư vấn: Kính gửi Công ty Luật Minh Gia,  Ngày 03/3/2018 tôi có vay của bên C số tiền 3,5tr đồng trong kì hạn 30 ngày. Số tiền để tôi phải trả để kết thúc hợp đồng là 5.040.000. Tuy nhiên do tôi nghỉ việc và nằm viện điều trị bệnh nên tôi chưa có khả năng thanh lý hợp đồng với bên C và tôi đã bị quá hạn gần 20 ngày. Hiện nay tổng số tiền của tôi theo thông báo của công ty C lên đến gần 6 triệu đồng. Phía công ty C gọi điện thông báo sẽ đưa hình ảnh của tôi lên trên Facebook, phát tán thông tin lừa đảo về địa phương và yêu cầu người thân của tôi phải nộp tiền cho tôi. Tôi không có ý xù nợ chỉ là hiện tại tôi chưa có khả năng để trả số tiền lãi quá cao so với mức vay ban đầu. Vậy khi bị khởi kiện tôi có phải ngồi tù không? C đã giao hồ sơ của tôi sang bên công ty đòi nợ thuê và thông tin cá nhân của tôi bị bôi nhọ trên các trang facebook bình luận của bạn bè khiến tôi rất áp lực. Vậy cách làm của công ty đòi nợ là đúng hay sai ạ? Người thân của tôi có nghĩa vụ phải trả nợ thay tôi hay không? Nếu giờ tôi trả số tiền 3,5tr cộng với số lãi 5k/triệu/ngày thì liệu có bị C truy cứu trách nhiệm nữa không ạ? Ngoài ra bên C còn nói sẽ cho nhân viên về nhà tôi để điều tra và các chi phí cho nhân viên đi lại ăn ở là tôi phải chịu. Điều này là đúng hay sai ạ? Tôi rất cần được tư vấn. Trân trọng.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Gia. Với vấn đề của bạn, chúng tôi xin đưa ra tư vấn như sau:

Thứ nhất, về trách nhiệm hình sự của bạn.

Khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 quy định:

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: 

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; 

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

...”

Do số tiền bạn vay của C là 3,5 triệu đồng và do hoàn cảnh bạn bị ốm đau phải nghỉ việc vào viện điều trị dẫn đến không có khả năng thanh toán số tiền 5.040.000 đồng cho C sau 30 ngày vay, không thuộc trường hợp dù có khả năng nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không thể trả tiền, như vậy, hành vi của bạn chưa đủ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định trên.

Thứ hai, về trách nhiệm dân sự.

Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Do thông tin bạn cung cấp về lãi suất hợp đồng vay không đồng nhất, khi là vay 3,5 triệu đồng trong 30 ngày và số tiền phải trả khi kết thúc hợp đồng vay là 5.040.000 đồng, tức là số tiền lãi 1.540.000 đồng, lãi suất vay là 528%/năm, khi là 5000/ 1 triệu/ ngày, tức 180%/năm nên chúng tôi không thể xác định được trách nhiệm cụ thể của bạn trong trường hợp này.

Tuy nhiên, cả 2 mức lãi suất kể trên đều vượt quá lãi quy định của Bộ luật dân sự 2015 là 20%/năm, do đó, phần lãi suất vượt quá 20%/năm sẽ bị Tòa án tuyên vô hiệu. Nghĩa vụ trả tiền của bạn lúc này là 3,5 triệu đồng tiền gốc và tiền lãi trong 30 ngày, tiền lãi trên số lãi chậm trả theo quy định tại Khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015.

Ngoài ra, nếu trong hợp đồng vay của bạn không có thoả thuận về vấn đề nhân viên về nhà bạn để điều tra và bạn phải chịu các chi phí cho nhân viên đi lại ăn ở và giữa bạn và C không có thỏa thuận nào khác về vấn đề nói trên thì việc C nói và yêu cầu bạn thanh toán là không có căn cứ.

Thứ hai, về việc người thân trả nợ thay.

Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Thực hiện nghĩa vụ liên đới như sau:

“1. Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

2. Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.

...”

C yêu cầu người thân bạn phải trả thay số tiền này. Tuy nhiên, nghĩa vụ liên đới theo quy định trên đối với người thân bạn chỉ đặt ra trong trường hợp cùng ký vào hợp đồng vay tiền và thỏa thuận liên đới trả tiền, đối với khoản vay của hộ gia đình, tổ hợp tác, khoản vay của vợ/ chồng phục vụ sinh hoạt chung của gia đình hoặc hoạt động kinh doanh chung,... do đó, nếu đây là khoản vay cá nhân của bạn, không thuộc các trường hợp kể trên, người thân của bạn sẽ không có trách nhiệm liên đới trả nợ thay.

Thứ ba, về việc thông tin cá nhân của bạn bị phát tán và bạn bị bôi nhọ trên các trang facebook.

Trường hợp thông tin cá nhân của bạn bị bôi nhọ trên các trang facebook bình luận của bạn bè, khiến cho danh dự, nhân phẩm của bạn và gia đình bị ảnh hưởng, bạn có thể tố cáo hành vi của người đã phát tán thông tin này ra Cơ quan Công an về tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015.

Trường hợp không đủ cấu thành tội hình sự, người phát tán thông tin này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm g Khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP về hành vi: “cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác” sẽ bị xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Trân trọng

Phòng Luật sư tư vấn Dân sự - Công ty Luật Minh Gia.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí