Hỏi đáp pháp luật Dân sự

  • Tư vấn về tranh chấp vụ án dân sự: Hợp đồng vay tài sản

    • 29/08/2018
    • Trương Quỳnh Trang
    • Quyền yêu cầu biện pháp ngăn chặn đối với hành vi tẩu tán tài sản của Đương sự. Nghĩa vụ chấp hành và biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự.


    Tôi có cho một người bạn mượn một số tiền nhưng đến hẹn người đó không trả nên tôi đã khởi kiện ra tòa án,vậy:



    + Trong thời gian tòa thụ lý vụ án thì tôi có được quyền làm đơn đề nghị ngăn chặn việc người thiếu tiền có thể tẩu tán tài sản đến các cơ quan chính quyền được không?



    + Sau khi tòa tuyên án mà người này không có tiền hoặc hết tài sản để thi hành án thì người này có bị tù không?



    + Vì người mượn tiền là công chức hưởng lương hàng tháng nên nếu khi bản án có hiệu lực mà người này không còn tài sản để trả nợ thì tôi có được quyền yêu cầu tòa án buộc người này trả hàng tháng theo mức lương thực nhận không?



    + Bản chất vụ án cho mượn tiền không lấy lãi hàng tháng và cho vay tiền có lấy lãi có khác nhau không?

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng hỏi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

    1 Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

    Căn cứ theo Điều 111 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:

    “1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.

    2. Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó.

    3. Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp quy định tại Điều 135 của Bộ luật này.”

    Như vậy, trong trường hợp bạn có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ tranh chấp áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn tình trạng người kia tẩu tán để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ như: kê biên tài sản, cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp, phong tỏa tài sản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước, phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ.

    2. Trách nhiệm hình sự trong trường hợp không có tài sản để thi hành án

    Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

    “1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

    2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.”

    Một người sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ phạm một trong những tội được quy định trong bộ luật hình sự. Đây là vụ án tranh chấp dân sự: “hợp đồng vay tài sản”. Trong trường hợp này, người vay tiền không có tiền hoặc hết tài sản để thi hành án không thể lấy đây làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự vì  hành vi của họ không cấu thành tội phạm theo quy định của bộ luật hình sự.

    Thủ tục tố tụng và thi hành án sau khi bản án được tuyên sẽ được thực hiện theo bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014.

    3. Việc khấu trừ thu nhập để thi hành án

    Căn cứ Điều 70 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định về căn cứ cưỡng chế thi hành án:

    “1. Bản án, quyết định;

    2. Quyết định thi hành án;

    3. Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án.”

    Sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên về việc người vay có nghĩa vụ phải trả tiền và nhận thấy người vay có thu nhập hàng tháng là tiền lương thì bạn có thể yêu cầu cơ quan thi hành án khấu trừ tiền lương để thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bạn theo quy định về các biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 71 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014:

    “1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.

    2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

    3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.

    4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án….”

    Sau khi bạn yêu cầu cơ quan thi hành án sẽ xem xét và tiến hành khấu trừ  lương hàng tháng của người đó nhưng vẫn phải đáp ứng cho người đó với mức sống cơ bản, nhu cầu thiết yếu của bản thân, gia đình họ.

    4. Bản chất việc cho mượn tiền không lấy lãi hàng tháng và cho vay tiền có lấy lãi có khác nhau không?

    Cho mượn tiền không lấy lãi thực chất là vay tài sản với lãi suất 0%. Pháp luật cho phép hai bên tự thỏa thuận mức lãi suất cho hợp đồng vay nhưng sẽ bị khống chế theo khung của pháp luật. Hiện nay pháp luật dân sự có quy định về mức lãi Nhà nước cho phép các bên thỏa thuận. Cụ thể Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về lãi suất như sau:

    1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

    Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

    Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

    2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”

    Do đó, trong trường hợp hợp đồng vay tài sản có quy định mức lãi suất thì do các bên thỏa thuận nhưng không được quá 20%/năm. Nếu các bên không có thoả thuận, xác định không rõ hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất bằng 50% mức lãi suất là 20%/năm tức là bằng 10%/năm.

    Trong hợp đồng vay tài sản, pháp luật cho phép hai bên thỏa thuận về mức lãi suất nhưng nếu mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ năm lần trở lên và thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên thì người cho vay có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn về tranh chấp vụ án dân sự: Hợp đồng vay tài sản. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

     

    Trân trọng!

    Cv: Vũ Nga - Công ty Luật Minh Gia.

    Hotline: 1900.6169