LS Quang Vinh

Tư vấn về thủ tục làm hộ khẩu và nhập khẩu

Xin chào công ty luật Minh Gia, tôi có một số vấn đề liên quan tới việc làm hộ khẩu. Tôi được biết đến quý công ty qua một số người bạn đã từng nhận được sự giúp đỡ của công ty.

 

Tôi rất mong nhận được sự tư vấn của quý công ty. Tôi xin trình bày vấn đề của mình như sau:Tôi kết hôn với một người đã từng ly hôn, tuy nhiên chúng tôi chưa làm được giấy đăng ký kết hôn. Hiện nay, tôi đã sinh con được 3 tháng. Gia đình nhà chồng có rắc rối về vấn đề đất đai nên rất khó cho tôi có thể làm các thủ tục đăng ký kết hôn và giấy khai sinh cho con tôi. Thứ nhất: chồng tôi theo hộ khẩu của mẹ chồng tôi ở quận A nhưng nay mẹ chồng tôi đã mất. Hiện nay chồng tôi và tôi lại sinh sống tại quận C. Tôi muốn chồng tôi đứng tên làm chủ khẩu. Khi tôi đến công an quận C xin làm hộ khẩu thì cơ quan công an yêu cầu phải có sổ đỏ bản chính nơi mà đang sống hiện nay ( tức tại C). Do trong quá trình làm ăn kinh doanh hiện nay chồng tôi có thế chấp sổ đỏ nhà đất tại ngân hàng. Vậy tôi xin hỏi nếu không có sổ đỏ bản gốc mà chỉ có bản photo công chứng thì chồng tôi có thể đứng tên làm chủ hộ khẩu không? Thứ hai: chồng tôi ly hôn với vợ cũ và có quyết định của tòa án về việc nhận nuôi 2 con. Bây giờ tôi muốn 2 con của chồng được nhập khẩu theo bố. Tuy nhiên khi đi làm khai sinh cho 2 cháu thì mẹ đẻ của 2 cháu đã nhập khẩu cho 2 cháu theo hộ khẩu mẹ. HIện nay khi tôi đi làm thủ tục nhập khẩu cho 2 cháu theo bố, cơ quan công an yêu cầu tôi phải có hộ khẩu của mẹ đẻ 2 cháu. Nhưng vì lý do tôi không thể gặp được mẹ đẻ 2 cháu để lấy hộ khẩu nên chưa thể làm được. Vậy tôi xin hỏi có cách nào để không cần tới mẹ đẻ 2 cháu mà có thể nhập khẩu cho 2 cháu theo bố được không? Thứ ba: tôi xin hỏi sau khi chồng tôi hoàn tất thủ tục về hộ khẩu thì tôi mới có thể làm được khai sinh và nhập khẩu cho con tôi phải không ạ? Tôi rât mong nhận được sự tư vấn của quý công ty để tôi có thể hoàn thành những thủ tục hành chính của người công dân.

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

 

Thứ nhất, không có sổ đỏ bản gốc mà chỉ có bản photo công chứng thì chồng tôi có thể đứng tên làm chủ hộ khẩu không?  

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật công chứng năm 2014 thì công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Do đó, bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) của chồng bạn sẽ phải được chứng thực bản sao từ sổ đỏ bản chính mà không công chứng. Tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 23/2015/NĐ-CP có quy định:

 

“Điều 3. Giá trị pháp lý của bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính, chữ ký được chứng thực và hợp đồng, giao dịch được chứng thực

 

2. Bản sao được chứng thực từ bản chính theo quy định tại Nghị định này có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

 

Theo đó, với việc pháp luật không có quy định khác về việc cấp sổ hộ khẩu thì bản photo sổ đỏ đã được chứng thực sẽ dùng thay cho sổ đỏ gốc. Tuy vậy, với một số nơi sẽ có yêu cầu cung cấp bản chính để đối chiếu với bản sao đã chứng thực.

 

Ngoài ra, với việc bạn với người chung sống với bạn hiện nay chưa đăng kí kết hôn và liệu rằng anh ta đã tách khỏi sổ hộ khẩu của mẹ và xin cấp hộ khẩu cho mình chưa khi chuyển nơi sinh sống sang quận C. Nếu anh ta đã có sổ hộ khẩu tại nơi cư trú là quận C thì theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Văn bản hợp nhất Luật cư trú 03/VBHN-VPQH:

 

“Người không thuộc đối tượng quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 25 nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này và được chủ hộ đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu cấp cho cá nhân thì được nhập chung vào sổ hộ khẩu đó”.

 

Do đó, sau khi đăng kí kết hôn thì với điều kiện chồng bạn đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình và bạn về ở với chồng mình (theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 20 Văn bản này) thì bạn sẽ được nhập khẩu chung vào hộ khẩu của chồng bạn. Còn nếu người chung sống với bạn chưa có sổ hộ khẩu tại quận C thì sẽ phải tiến hành xin cấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 26 Văn bản hợp nhất Luật cư trú 03/VBHN-VPQH:

 

Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có chỗ ở độc lập với gia đình của người đó, người sống độc thân, người được tách sổ hộ khẩu theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này”, sau đó sẽ lặp lại các bước phía trên.

 

Thứ hai, có cách nào để không cần tới mẹ đẻ 2 cháu mà có thể nhập khẩu cho 2 cháu theo bố được không?  

 

Để nhập khẩu cho hai cháu vào hộ khẩu của bố thì phải tách sổ hộ khẩu trước đã. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 27 Văn bản hợp nhất luật cư trú 03/VBHN-VPQH thì người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26 của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản”, tức là hai cháu trước đó đã được nhập vào hộ khẩu của mẹ khi con về ở với mẹ theo điểm a khoản 2 Điều 20 nên khi muốn nhập vào hộ khẩu của bố thì thì phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ được quy định tại khoản 2 Điều 25:

 

“Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này”

 

Theo đó, việc nhập hộ khẩu này vẫn có liên quan đến mẹ đẻ của hai cháu nên bạn có thể yêu cầu mẹ đẻ của hai cháu gửi văn bản về việc đồng ý cho hai cháu tách khỏi sổ hộ khẩu của mình.

 

Thứ ba, sau khi chồng tôi hoàn tất thủ tục về hộ khẩu thì tôi mới có thể làm được khai sinh và nhập khẩu cho con tôi phải không?

 

Về việc làm giấy khai sinh cho con, bạn và chồng vẫn có thể đăng ký khai sinh cho con bình thường mà không cần phải hoàn tất về hộ khẩu như trên nếu cả hai bạn thừa nhận có con. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày cháu bé được sinh ra thì bạn hoặc bố cháu bé (hoặc ông, bà) phải đi đăng ký khai sinh cho bé. Tuy vậy, cháu bé đã được 3 tháng mà vẫn chưa làm giấy khai sinh nên sẽ phải làm thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn. Khi đi đăng ký khai sinh thì bố cháu bé phải có văn bản nhận con để Ủy ban nhân dân giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh cho con bạn. Điều này được quy định tại khoản 2, 3 Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP:

 

2. Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.

3. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

 

Về việc nhập khẩu cho con bạn thì phải được tiến hành sau khi vợ chồng bạn có hộ khẩu.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn về thủ tục làm hộ khẩu và nhập khẩu. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng

Cv. Bùi Thảo – Công ty Luật Minh Gia.

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Liên hệ tư vấn