Hỏi đáp pháp luật Dân sự

  • Tư vấn về thời hiệu khởi kiện hưởng di sản thừa kế theo pháp luật

    • 11/11/2018
    • Đồng Xuân Thuận
    • Cho tôi hỏi về thừa kế theo quy định pháp luật như sau: Năm 1945 Ông Ngoại tôi có mua một căn nhà gồm 3 gianvà ở chung với 8 người con, đến khi trưởng thành các con đều ra sống riêng. Mẹ tôi chết năm 1973, ông Ngoại tôi chết năm 1975, không để lại di chúc, thì căn nhà 3 gian đó người Cậu lớn tôi tiếp tục ở căn nhà đó, đến năm 1978 người Cậu lớn cho người Cậu thứ 3 vào ở chung,

    Năm 1999 người Cậu lớn chết, năm 2000 người Cậu thứ 3 cũng chết.  Năm 2001 các con của người Cậu tự chia ra thành 2 căn nhà, bên con người Cậu lớn sử dụng 2 gian,bên người Cậu thứ 3 sử dụng 1 gian, và 2 gia đình tiếp tục ở. Đến 2009 phát sinh tranh chấp, bên con người Cậu thứ 3 là cháu dâu khởi kiện Tòa án đòi chia thêm 1/2 gian nhà giữa. Như vậy tôi là Cháu ngoại ruột có được quyền ngăn chặn để yêu cầu Tòa án xác định quan hệ pháp luật là cháu ngoại ruột để được chia tài sản do ông Ngoại tôi chết để lại hay không xin cám ơn.

     

    Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

     

    Theo như thông tin bạn cung cấp thì căn nhà hiện tại đang tranh chấp, sau khi ông ngoại của bạn mất, không có di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật.

     

    Theo điều 651 Bộ luật dân sự 2015 về hàng thừa kế theo pháp luật thì:

     

    “1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

     

    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

     

    b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

     

    c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

     

    2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

     

    3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

     

    Như vậy, mẹ bạn sẽ được hưởng thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất. Tuy nhiên, mẹ bạn lại chết trước thời điểm ông ngoại chết (năm 1973), theo đó  bạn sẽ được hưởng di sản thừa kế theo quy định tại điều 652 Bộ Luật dân sự 2015 về thừa kế thế vị:

     

    “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”.

     

    Tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hiệu thừa kế như sau:

     

    Điều 623. Thời hiệu thừa kế

     

    1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

     

    a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

     

    b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

     

    2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

     

    3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”.

     

    Như vậy, theo quy định trên thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Khi hết thời hạn trên thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.

     

    Ngoài ra, căn cứ tại công văn số: 01/GĐ-TANDTC có quy định như sau:

     

    “Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự "Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế.

     

    Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10-9-1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990.”.

     

    Do vậy, theo thông tin bạn cho biết, thời điểm ông ngoại mất là 1975, theo quy định trên thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990. Do đó, đến thời điểm hiện tại (2018) vẫn còn thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, nên một trong các đồng thừa kế có thể gửi đơn đến Tòa yêu cầu phân chia di sản thừa kế mà ông ngoại để lại.

     

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn về thời hiệu khởi kiện hưởng di sản thừa kế theo pháp luật. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

     

    Trân trọng

    Luật gia: bảo Lâm – Công ty Luật Minh Gia.  

    Hotline: 1900.6169