Trần Diềm Quỳnh

Tư vấn tranh chấp về thừa kế

Luật sư tư vấn miễn phí trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu di sản thừa kế khi đã có di chúc và đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau:


Câu hỏi tư vấn:
 
Ông nội tôi có 4 người con (2 trai, 2 gái); có 2 mảnh đất (gọi là A và B). Trước khi ông mất có viết di chúc tay có nội dung: mảnh đất A các con cùng hưởng (không thấy nhắc đến mảnh đất B ) và được bác cả cất đi (không ai biết sự tồn tại của di chúc này cho đến năm nay bác tôi mới đưa ra). Mấy chục năm trước bác cả nói bằng miệng: cho bố tôi ở mảnh đất A để trông coi và chăm sóc mẹ ốm đau (vợ của ông), bác bán mảnh đất B (giờ vẫn còn giấy tờ bán đất) + bố tôi đưa thêm 1.5 triệu (tiền lúc ấy mua đc mấy sào đất ) để bác mua đất ở Hà Đông. Mấy năm trước xã tiến hành cấp số đỏ hàng loạt và có cho thời hạn 3 năm để các bên kiện cáo. Nhưng hồi đấy không ai có ý kiến gì nên sau 3 năm bố tôi đã được cấp sổ đỏ sở hữu mảnh đất A. Giờ bác đưa ra di chúc lúc trước của ông, và phủ nhận việc nói cho bố tôi mảnh đất A, phủ nhận cả việc nhận 1.5 triệu lúc trước. Bác muốn phân chia lại mảnh đất A. Xin hỏi luật sư: theo luật pháp thì bác có quyền ở mảnh đất A không? quy định pháp luật trong trường hợp này thế nào?

 

=> Tư vấn giải quyết tranh chấp về Thừa kế, gọi 19006169 

 

Trả lời câu hỏi tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn tới Công ty chúng tôi! Trường hợp của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

 

Thứ nhất, cần phải xác định lại rằng di chúc có hợp pháp hay không? Di chúc được coi là hợp pháp khi đủ các điều kiện được quy định tại Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015:

 

"1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

 

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

 

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

 

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

 

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

 

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

 

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng."

 

Thứ hai, Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau:

 

“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

 

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

 

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

 

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

 

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”
 
Theo đó, thời hiệu khởi kiện thừa kế là 30 năm kể từ thởi điểm mở thừa kế. Vì thông tin bạn cung cấp không đầy đủ thời điểm ông bạn mất, giả sử ông bạn mất chưa được 30 năm, hiện nay vẫn còn thời hiệu thừa kế, di chúc ông bạn lập là hợp pháp thì việc phân chia di sản sẽ theo nội dung di chúc. Tức là mảnh đất A sẽ được chia đều cho các con như nội dung di chúc, mảnh đất B sẽ được chia theo pháp luật, tức là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông nội bạn mỗi người sẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau, bao gồm: bà nội bạn, bố bạn, anh chị em của bố bạn, bố mẹ của ông nội bạn (nếu có). Trường hợp di chúc ông bạn để lại không hợp pháp thì mảnh đất A và mảnh đất B sẽ được chia theo pháp luật, tức là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. 

 

Thứ ba, về việc bố bạn được cấp GCNQSDĐ đối với mảnh đất A. Trường hợp mảnh đất A là di sản thừa kế của ông nội bạn, bố bạn sử dụng mà chưa được sự đồng ý của những người thừa kế thì việc cấp GCN này là không phù hợp với quy định pháp luật. Theo đó, GCN sẽ bị thu hồi theo quy định tại Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013, cụ thể:

 

“2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

 

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

 

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

 

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

 

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.”
 

Đối với việc bác bạn đã bán mảnh đất B, thì bạn có thể làm đơn khởi kiện để yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán đó vô hiệu nếu có căn cứ chứng minh đây là di sản thừa kế của ông bạn mà bác bạn bán không được sự đồng ý của những người thừa kế. Bạn hoặc những người thừa kế khác có thể gửi đơn đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có mảnh đất B để yêu cầu giải quyết.  

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn tranh chấp về thừa kế . Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại 19006169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng

Cv tư vấn Hoàng Huyền – Công ty Luật Minh Gia

Hotline: 1900.6169