Tuấn Luật sư

Tư vấn quy định pháp luật về thừa kế không có di chúc

Gia đình tôi có một số thắc mắc về luật thừa kế không di chúc, mong được giải đáp. Hiện gia đình tôi đang sống trên mảnh đất của Ông Bà nội để lại, đã xây dựng nhà cửa. Ông nội tôi có hai vợ: _ Một đó là bà Nội tôi hiện đã qua đời năm 2006. _ Hai là Bà nội kế: hiện đang sinh sống ở NB.

Ông nội có 3 người con trai: 1 chú ở NB, 1 chú ở HN và ba của tôi. 2 chú đã có nhà ở và đất đai cố định còn ba mẹ tôi sống trên phần đất của ông bà để lại. Ba mẹ tôi kết hôn vào năm 1979. ba mẹ tôi xây nhà trên đất của ông nội để lại đã 20 năm. Giấy sử dụng đất hiện ba tôi đang cất giữ mang tên của ông nội.( giấy sử dụng đất này được cấp vào năm 1991) Ông nội của tôi qua đời vào năm 1991 và không để lại di chúc. từ năm 1991 đến nay không có bất cứ thành viên nào thắc mắc về đất đai ông nội để lại. Nhưng nay, người chú ở huế muốn chia đất của ông nội để lại( tức mảnh đất gia đình tôi đang sống),và xảy ra tranh chấp. Vậy nếu giải quyết theo luật thừa kế không di chúc thì như thế nào?

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

Do ông nội bạn mất không để lại di chúc nên di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”.

Về nội dung bạn cung cấp chưa rõ thửa đất đó là của riêng ông nội bạn hay của chung của ông nội với bà nội nào? Do đó, chúng tôi chia thành các trường hợp sau:

- Nếu thửa đất là tài sản chung của ông nội với bà nội đầu:

Như giải thích trên, phần di sản của ông nội của bạn đã hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế, nhưng bà nội của bạn chết vào năm 2006, nên thời hiệu yêu cầu chia thừa kế di sản của bà nội bạn vẫn còn. Do đó hiện nay các người thừa kế (các con của bà nội) có quyền yêu cầu chia thừa kế di sản của bà nội bạn, nếu các đồng thừa kế không thỏa thuận được về việc chia thừa kế, thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nơi có thửa đất tranh chấp để yêu cầu giải quyết.

-Nếu thửa đất là tài sản riêng của ông nội bạn:

 Tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hiệu thừa kế như sau:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”.

Như vậy, theo quy định trên thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Khi hết thời hạn trên thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.

Theo thông tin bạn cung cấp, ông nội bạn mất năm 1991. Do đó, tính đến thời điểm hiện tại (2018) vẫn còn thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, nên một trong các đồng thừa kế có thể gửi đơn đến Tòa yêu cầu phân chia di sản thừa kế mà ông nội để lại.

- Nếu thửa đất là tài sản chung của ông nội bạn với bà nội kế:

Trường hợp này phần di sản của ông nội bạn có thể xác định là một nửa (theo nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng). Hiện tại, vẫn còn thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, nên một trong các đồng thừa kế có thể gửi đơn đến Tòa yêu cầu phân chia di sản thừa kế mà ông nội để lại.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn quy định pháp luật về thừa kế không có di chúc. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ bạn liên hệ luật sư tư vấn  thừa kế theo pháp luật trực tuyến để được giải đáp.

Hotline: 1900.6169