Trần Tuấn Hùng

Tư vấn lập di chúc

Kính gửi luật sư, tôi là Nguyễn Thị Thành , kính xin được giải đáp những vấn đề mà tôi gặp phải khi muốn lập di chúc:


Nội dung tư vấn:
 
Kính gửi luật sư, tôi là Nguyễn Thị Thành , kính xin được giải đáp những vấn đề mà tôi gặp phải khi muốn lập di chúc:
 
- Tôi đứng tên quyền sở hữu nhà cửa năm 1984.
 
- Sổ đỏ được cấp năm 2004 , do cấp đại trà nên quyền sử dụng đất ghi là cấp cho hộ Nguyễn Thị Thành. Do nhà thực chất là của mẹ tôi mua, giao tôi đứng tên, nên tôi muốn làm di chúc giao lại em tôi quản lí khi tôi qua đời, nhưng công chứng buộc tôi phải có sự đồng ý của con tôi, và xác định tình trạng hôn nhân ( chưa li hôn, nhưng li thân 20 năm, và không hề có tên trong hộ khẩu ). Công chứng nói nếu sổ đỏ ghi cấp cho cá nhân Nguyễn thị Thành, thì tôi tự quyền quyết định, tôi làm đơn xin đính chính theo khoản 1 điều 106 luật đất đai năm 2013 gửi UBND thành phố MT, họ chỉ tôi qua địa chính, qua địa chính, chỉ tôi về công chứng có tặng cho của con tôi mới đính chính. Thật là cái vòng lẩn quẩn không biết phải giải quyết ra sao. Con tôi phải ra công chứng làm gì mới đúng, cứ chỉ lòng vòng, phiền toái.
 
Kính mong luật sư giải đáp cách thực hiện đúng nhất. Chân thành cám ơn !
 
Trả lời:
 
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia chúng tôi. Về trường hợp của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:
 
Theo thông tin bạn cung cấp thì hiện tại bạn và chồng bạn chưa ly hôn, nhưng đã ly thân 20 năm nhưng chồng bạn lại không có tên trong sổ hộ khẩu. Như vậy, bạn có thể xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo Nghị Định 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch.
 
Bước 1: Bạn nộp tờ khai theo mẫu quy định.
 
Bước 2: Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định 123/2015/NĐ-CP thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng.
 
Bước 3: Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
 
Bước 4: Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương.
 
Bước 5: Ngay trong ngày nhận được văn bản trả lời, nếu thấy đủ cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cầu theo quy định tại Khoản 3 Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP.
 
Điều 654 Bộ Luật dân sự 2005 quy định:

“Điều 465. Hợp đồng tặng cho tài sản
 
Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận.”
 
Theo đó, nếu như hộ gia đình hiện tại chỉ còn hai mẹ con bạn thì con bạn có thể làm hợp đồng tặng cho quyền sở hữu phần diện tích nhà của mình cho bạn. Hợp đồng tặng cho này được lập theo quy định của pháp luật và có công chứng.
 
Như vậy, sau khi đã có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và hợp đồng tặng cho tài sản của con bạn thì bạn làm đơn xin đính chính theo Luật đất đai 2013:

Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:
 
a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;
 
b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.”
 
 
Như vậy, sau khi được đính chính thì bạn có toàn quyền quyết định đối với việc để lại di chúc cho em trai mình được sở hữu căn nhà và quyền sủ dụng đất cho em trai bạn khi bạn chết.
 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn lập di chúc . Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng


Cv: La Điểm-Công ty Luật Minh Gia.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí