Luật sư Trần Khánh Thương

Tư vấn các vấn đề pháp lý liên quan đến việc vay tài sản

Vay mượn tiền là một giao dịch dân sự xảy ra thường xuyên, phổ biến trong cuộc sống hằng ngày. Các tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự này xảy ra rất nhiều, chủ yếu là do người vay không có khả năng trả nợ. Vậy trường hợp vay tiền không trả sẽ bị xử lý thế nào và người cho vay làm cách nào để lấy lại được tiền của mình?

Câu hỏi: Tôi có một trường hợp cần luật sư tư vấn. Chuyện là tôi có cho một người bạn vay tiền mặt, số tiền là 25 triệu đồng để người bạn này trả tiền thuê đất cho chủ đất. Chúng tôi đã làm hợp đồng cho vay tiền mặt bằng giấy tờ và 3 bên ký tươi (người vay, tôi, và vợ tôi ký làm chứng) theo mẫu hợp đồng cho vay tiền tôi in trên mạng internet. Trong giấy tờ hợp đồng cho vay hạn trả nợ là tháng 9/2020. Tôi đã đòi nhiều lần nhưng đến nay là tháng 8/2021 người bạn đó vẫn ko trả tôi, và còn thách thức tôi xem có lấy lại được tiền không. Hiện tôi mới lập gia đình, con nhỏ nên rất khó khăn, lúc bạn bè khó khăn tôi giúp, gần 1 năm nay không lấy lại được tiền. Tôi có cách nào lấy lại số tiền đó không. Kính mong luật sư tư vấn. Cảm ơn luật sư. Chúc luật sư sức khoẻ hạnh phúc và thành công!

Trả lời: Cảm ơn anh đã gửi yêu cầu tư vấn đề Luật Minh Gia, trường hợp của anh Luật Minh Gia tư vấn như sau:

- Về trách nhiệm trả nợ của người vay:

Căn cứ tại điều 463 bộ luật dân sự 2015 thì: "Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định".

Theo thông tin anh cung cấp thì anh có cho người bạn vay một số tiền là 25 triệu đồng, việc vay mượn được lập thành văn bản, có chữ ký của các bên nhưng không công chứng. Theo pháp luật hiện hành không có văn bản nào yêu cầu bắt buộc hợp đồng vay tài sản phải công chứng, nên hợp đồng được ký kết giữa anh và người bạn hoàn toàn hợp pháp, quyền và nghĩa vụ của các bên được pháp luật bảo vệ.

Tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

"1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác".

Theo đó, hợp đồng vay của anh có kỳ hạn, do vậy, khi đến hạn bên vay phải trả lại tài sản (bao gồm cả gốc và lãi nếu có thỏa thuận). Trường hợp đã đến hạn trả nợ nhưng không trả, anh có quyền khởi kiện ra tòa án nơi người bạn đang cư trú để yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình.

- Hành vi cố tình không muốn trả nợ có dấu hiệu hình sự:

Theo thông tin anh cung cấp thì người bạn có những biểu hiện cố tình không muốn trả nợ, có dấu hiệu của việc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017):

"1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
..."

Như vậy, nếu đến thời hạn trả nợ, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng người bạn của anh vẫn cố tình không trả nợ thì có thể bị truy cứu TNHS về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí