Trần Tuấn Hùng

Trường hợp nào được phạt cọc?

Thưa luật sư, tôi muốn hỏi quy định về phạt cọc như sau: Tôi có giao dịch mua bán nhà đất, hai bên mua bán thỏa thuận giá bán bằng miệng, làm giấy tay đặt cọc nhưng trong giấy đặt cọc không ghi số tiền bán cái nhà, có nhân chứng ký tên. Nay họ không bán theo giá đã thỏa thuận mà bán giá cao hơn.


Vậy với tờ giấy đặt cọc (không ghi giá bán thỏa thuận) tôi có đủ pháp lý buộc họ trả phạt cọc không? Nếu ra tòa thì kết quả ra sao? Rất mong luật sư tư vấn sớm theo địa chỉ email của tôi. Xin chân thành cám ơn. 

 

Tư vấn quy định pháp luật về đặt cọc, gọi 19006169 

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến công ty Luật Minh Gia, chúng tôi tư vấn như sau:

 

Căn cứ theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 quy định đặt cọc như sau:

 

“Điều 328. Đặt cọc

1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

 

Như vậy, theo như thông tin bạn cung cấp ở trên thì người bán thay đổi giá bán theo thỏa thuận và tờ giấy đặt cọc không ghi giá bán thỏa thuận thì không phải là căn cứ để buộc bên mua họ phải trả cọc và phạt cọc theo quy định của pháp luật.

 

Trường hợp bạn muốn khởi kiện ra Tòa án thì bạn phải có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:

 

“Điều 91. Nghĩa vụ chứng minh

1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

...”

 

Vậy theo quy định nêu trên, nếu bạn không thể chứng minh được bên bán từ chối giao kết hợp đồng hoặc từ chối thực hiện hợp đồng theo mục đích của hợp đồng đặt cọc ban đầu thì việc khởi kiện yêu cầu bên bán trả lại tiền cọc là không có căn cứ.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Trường hợp nào được phạt cọc?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại 19006169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng

Luật gia: P.T.Nguyệt - Luật Minh Gia

Hotline: 1900.6169