Cà Thị Phương

Tranh chấp về chia di sản thừa kế giữa con và bố mẹ của người mất

Di chúc bằng miệng hợp pháp khi nào? Khi có tranh chấp về chia di sản thừa kế thì giải quyết như thế nào?

Nội dung yêu cầu tư vấn:


Chào các luật sư Công Ty Luật Minh Gia. Luật sư cho em hỏi, Gia đình bên vợ em, bố mẹ vợ đã ly hôn, vợ em sống với mẹ. Bên bố vợ em có ba anh em, hai con trai và một con gái. Ông bà vẫn còn sống và đã phân chia đất cho tất cả các con và đã làm sổ đỏ. Trước khi mất bố vợ em đã được làm sổ đỏ, và đã có trước khi ly hôn. Mẹ vợ em đã ly hôn nên không có quyền với tài sàn đó, nhưng còn vợ em là con duy nhất được hưởng thừa kế. Lúc mất bố vợ em không làm di chúc, nhưng có nói lại đông đủ mọi người về việc để lai tài sản đất đai cho vợ em.   

Hiện tại ông bà giữ sổ đỏ đó tính từ thời điểm bố vợ em mất tới bây giờ là 15 năm, ông bà muốn sang tên sổ đỏ lại cho người con gái, không thực hiện chuyển lại tài sản cho vợ em, dù nhiều lần được yêu cầu. Ông bà nói vợ em không phải là cháu trai, không phụng dưỡng, thờ cúng ông bà sau này. Nhưng trên pháp luật thì người thừa kế không phân biệt con trai hay gái.

Vậy luật sư cho em hỏi vợ em có quyền thừa hưởng tài sản để lại đó không? ông bà bên nội có quyền sử dụng tài sản thừa kế đó không? Thời điểm mở thừa kế đã lâu vậy bây giờ còn hiệu lực khởi kiện tranh chấp không? Em xin cảm ơn!Trân trọng, 

 
Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của vợ bạn chúng tôi tư vấn như sau:


Trường hợp của vợ bạn, bố vợ bạn mất 15 năm trước tức là từ năm 2003 do vậy di chúc bằng miệng của bố vợ bạn phải đáp ứng được các điều kiện theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 1995. Cụ thể:


Theo quy định tại Điều 654 Bộ Luật Dân sự năm 1995 về di chúc bằng miệng thì:


“Điều 654. Di chúc miệng


1- Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe doạ do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản, thì có thể di chúc miệng. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.


2- Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt, thì di chúc miệng bị huỷ bỏ”.


Như vậy, trường hợp ba vợ bạn không để lại di chúc bằng văn bản mà chỉ nói miệng rằng để lại tài sản là đất đai cho vợ của bạn trước đông đủ mọi người mà không đáp ứng đủ điều kiện trên. Do đó, hình thức di chúc bằng miệng của bố không có giá trị pháp lý. Theo đó, toàn bộ di sản mà bố mất để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật cho những người thừa kế hợp pháp, phần thừa kế được chia thành những phần di sản bằng nhau.  Cụ thể, Điều 651 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định:


“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật


1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:


a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”.

 

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

 

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

 

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

 

Theo đó, vợ bạn và ông bà nội cũng là một trong những người thừa kế hợp pháp của bố nên đều có quyền hưởng di sản thừa kế từ khối tài sản trên. 

 

Về thời hiệu phân chia di sản:

 

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

 

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

 

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

 

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

 

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

 

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

 

Tại Nghị quyết 02 / 2004 / NQ - HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình:

 

2.2. Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

 

a. Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 1/7/1996, thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế"
 

 

*) Tại Điều 36: Pháp lệnh về thừa kế 1990

 

Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

 

1- Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác.

 

2- Trong thời hạn ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản.

 

3- Trong trường hợp do trở ngại khách quan mà không thể thực hiện được quyền khởi kiện trong thời hạn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì thời gian bị trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện.

 

4- Đối với các việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh này thì thời hạn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này được tính từ ngày công bố Pháp lệnh này.

 

*) Tại Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế":

 

10. Về thời hiệu khởi kiện

 

Khi áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế cần chú ý như sau:

 

a) Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà công dân, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích của mình. Quá thời hạn đó, họ không có quyền khởi kiện nữa. Có hai thời hạn cho hai loại quyền khởi kiện khác nhau đã được quy định cụ thể tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 36, khi áp dụng cần tránh nhầm lẫn.

 

b) Đối với những việc thừa kế đã mở trước ngày 10-9-1990, thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990, do đó:

 

- Sau ngày 10-9-2000, đương sự không có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác;
 

 

Căn cứ vào các quy định nêu trên, bác không thể yêu cầu tòa án giải quyết chia tài sản theo quy định của pháp luật về quyền thừa kế nữa. Khi đó bác chỉ có quyền yêu cầu tòa án chia tài sản theo hình thức tài sản chung giữa những đồng sở hữu mà thôi. Căn cứ:

 

*) Tại Nghị quyết 02 / 2004 / NQ - HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình:

 

2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

 

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

 

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.
 

Như vậy, đối chiếu với quy định trên thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với trường hợp của gia đình bạn vẫn còn. Do đó, nếu có phát sinh về tranh chấp thì có thể khởi kiện trực tiếp ra Tòa án để giải quyết.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng.
CV tư vấn: Trần Thị Thìn - Luật Minh Gia

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Liên hệ tư vấn