Hỏi đáp pháp luật Dân sự

  • Tranh chấp quyền sử dụng đất và vấn đề thừa kế

    • 19/09/2018
    • Nguyễn Văn Cảnh
    • Cha mẹ tôi đã cùng sinh sống và tạo dựng 1 căn nhà tại q.6 sài gòn từ 1954 nhưng chưa đăng ký quyền sở hữu nhà ở đất ở. Hai người không có hôn thú, có với nhau 5 người con. Năm 1990 cha tôi mất, mẹ tôi sau đó đi định cư nước ngoài cùng với 3 chị em gái. Ở VN chỉ còn lại 2 người.


    Nội dung đề nghị tư vấn: Tôi mưu sinh ở nơi khác, còn chị tôi ở lại căn nhà trên cùng với gia đình. Lợi dụng lúc mẹ tôi đi định cư và tôi không hay biết chị tôi đã tiến hành đăng ký quyền sử dụng đất ở và nhà ở đứng tên chị tôi và chồng của chị ấy.Chị tôi hiện nay đang bị bệnh nan y sắp mất.Vậy sau khi chị tôi qua đời,tôi có thể khởi kiện anh rể tôi để yêu cầu tòa án tuyên hủy giấy CN quyền sử dụng nhà ở và đất ở được không và hành vi ấy có thể bị quy kết vào tội chiếm đoạt tài sản được hay không? Bởi thực tế cha mẹ tôi chỉ cho chị tôi và gia đình chị ấy quyền sử dụng và quản lý chớ không phải quyền sở hữu.Sau đó tôi muốn mẹ tôi đứng tên căn nhà mà ba tôi để lại được không? mẹ tôi là Việt kiều thuộc diện có công với cách mạng. Ngoài ra án phí để tiến hành tố tụng là bao nhiêu và cụ thể chi trả như thế nào.Xin chân thành cám ơn luật sư.

    Trả lời tư vấn: Luật Minh Gia cảm ơn câu hỏi và đề nghị tư vấn của bạn. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:
     

    Luật Đất đai 2013 có quy định về thu hồi giấy chứng nhận đã cấp tại Điều 106 như sau:

     

    Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

     

    2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

     

    d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

     

    Do vậy, nếu nhận thấy giấy chứng nhận đã cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, mẹ bạn có thể gửi đơn đến cơ quan đã cấp giấy chứng nhận yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho chị bạn.

     

    Nếu mẹ bạn muốn giải quyết vụ việc tại cơ quan tư pháp là Tòa án, trường hợp có các giấy tờ chứng minh mình là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với mảnh đất đó thì bà có thể tiến hành gửi đơn kiện yêu cầu tòa án giải quyết ( Các giấy tờ này có thể là giấy tờ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở hoặc các giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật..). Khi đó, vụ án được coi là tranh chấp dân sự và tòa án có thể tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử đụng đất bị cấp sai.

    Trường hợp mẹ bạn không chứng minh được mình có quyền sử dụng đối với mảnh đất và ngôi nhà thì khối tài sản này được xác định là tài sản chung của vợ chồng chị bạn. Chị bạn có quyền sở hữu một nửa phần tài sản đó. Sau khi chị bạn mất, mẹ bạn vẫn có thể được hưởng một phần di sản thừa kế của chị bạn nếu:

    Trường hợp chị bạn có để lại di chúc

    +Chỉ định người thừa kế là mẹ bạn thì mẹ bạn sẽ được hưởng phần di sản tương ứng với phần được chỉ định.

    +Chị bạn để lại di chúc nhưng những người được thừa kế trong di chúc không có tên mẹ bạn thì mẹ bạn vẫn được hưởng 2/3 một suất thừa kế theo quy định tại điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015:

    Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

     

    1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

     

    a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;


    Trường hợp chị bạn không để lại di chúc

     

    Nếu chị bạn mất mà không để lại di chúc thì mẹ của bạn sẽ được hưởng một phần di sản thừa kế do bà thuộc hàng thừa kế thứ nhất:

    Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

    1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

    b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người
    chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;


    c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

    2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

    3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

    Mức án phí:

    Còn tùy thuộc trường hợp tranh chấp tài sản của gia đình bạn, mức án phí có thể khác nhau. Bạn có thể tham khảo tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14. Theo khoản 2 điều 27 Nghị quyết này thì:

    Điều 27. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong một số loại việc cụ thể

     

    2. Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau:

     

    a) Trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án không xem xét giá trị, chỉ xem xét quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất của ai thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án không có giá ngạch;

     

    a) Trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án phải xác định giá trị của tài sản hoặc xác định quyền sở hữu quyền sử dụng đất theo phần thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp vụ án có giá ngạch đối với phần giá trị mà mình được hưởng.

     

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tranh chấp quyền sử dụng đất và vấn đề thừa kế. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn dân sự trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

     

    Trân trọng
    CV Lương Duyên – Công ty Luật Minh Gia.

    Hotline: 1900.6169