Hỏi đáp pháp luật Dân sự

  • Trách nhiệm bồi thường dân sự khi xảy ra tai nạn giao thông được quy định như thế nào?

    • 26/05/2018
    • Nguyễn Thị Điển
    • Luật sư tư vấn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xảy ra tai nạn giao thông.

    Nội dung yêu cầu tư vấn: Kính thưa văn phòng luật sư Minh Gia. Chú tôi có tham gia giao thông khi đang trên đường đi làm về. Thì có xảy ra tai nạn. lúc ấy có 3 người tham gia giao thông cùng làn đường, chú tôi và 2 người phụ nữ đều đi xe máy. chú tôi điều khiển phía sau người phụ nữ thứ nhất tốc độ bình thường, 2 xe chạy thẳng gần như song song. Cùng thời điểm thì người phụ nữ thứ 2 chạy xe với tốc độ nhanh rẽ trái để vượt chú tôi. Do có xe tải chạy ngược chiều nên người phụ nữ này buộc rẽ phải và va chạm vào phía sau xe chú tôi... Hậu quả chú tôi trầy xướt nhẹ, người phụ nữ này chấn thương nặng, vậy xin hỏi luật sư: trong trường hợp này lỗi thuộc về ai và chú tôi có phải chịu bồi thường gì trước pháp luật hay không. Xin cảm ơn!

    Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

    Căn cứ tại Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

    “Điều 14. Vượt xe

    1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

    2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.

    3. Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.

    4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải:

    a) Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái;

    b) Khi xe điện đang chạy giữa đường;

    c) Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái được.

    5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

    a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;

    b) Trên cầu hẹp có một làn xe;

    c) Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;

    d) Nơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

    đ) Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt;

    e) Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ”.

    Trong trường hợp của chú bạn cần phải xem xét yếu tố lỗi thuộc về một phía hay thuộc về lỗi của hai người. Cụ thể, phải xác định tại thời điểm vượt xe người phụ nữ thứ hai đó có đáp ứng đủ các điều kiện về khoảng cách, về trướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều, về phần chú bạn có tín hiệu cho xe người phụ nữ vượt xe hay không... Việc xác định yếu tố lỗi gây ra tai nạn giao thông sẽ thuộc về cơ quan có thẩm quyền này. Cơ quan này sẽ tiến hành điều tra và lập biên bản về vụ tai nạn giao thông, xác định yếu tố lỗi của các bên trong vụ tai nạn.

    Đồng thời, căn cứ tại Điều 584 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định:

    “Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

    1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

    2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

    3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”.

    Theo đó, việc chú bạn có phải chịu trách nhiệm bồi thường hay không còn phụ thuộc vào việc chú bạn có lỗi trong việc gây tai nạn hay không theo như biên bản điều tra của cơ quan có thẩm quyền.

    +Trường hợp thứ nhất: Nếu biên bản điều tra của cơ quan có thẩm quyền xác định vụ tai nạn trên là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người phụ nữ thứ hai kia thì không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chú bạn không phải chịu trách nhiệm bồi thường.

    +Trường hợp thứ hai: Nếu biên bản của cơ quan có thẩm quyền xác định chú bạn có lỗi dẫn đến tai nạn thì chú bạn sẽ phải bồi thường cho đối với phần lỗi mà chú bạn gây ra. Cụ thể:

    Căn cứ tại Điều 585 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định:

    “Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

    1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

    3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

    4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

    5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình”.

    Bên cạnh đó, trong trường hợp có thiệt hại về sức khỏe và tài sản thì hai bên có thể thỏa thuận dựa trên căn cứ quy định tại Điều 589, 590 Bộ Luật Dân sự 2015 này để xác định được mức bồi thường hợp lý.

    “Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

    Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:

    1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

    2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

    3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

    4. Thiệt hại khác do luật quy định”.

    “Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

    1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

    a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

    b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

    c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

    d) Thiệt hại khác do luật quy định.

    2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.

    Như vậy, nếu chú bạn có lỗi thì chú bạn phải bồi thường cho người phụ nữ thứ hai theo yếu tố lỗi, mức độ thiệt hại về sức khỏe (như chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút, thu nhập thực tế hoặc bị giảm sút của người phụ nữ, chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế cho người chăm sóc họ trong thời gian họ điều tri và một khoản tiền đền bù về mặt tinh thần...); bồi thường về tài sản ( với các khoản tiền cho tài sản bị hủy hoại hoặc hư hỏng, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất...). Tuy nhiên, nếu người phụ nữ đó cũng có lỗi trong việc gây ra tai nạn trên thì họ sẽ không được bồi thường với phần thiệt hại do họ gây ra.

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

    Trân trọng.
     CV tư vấn: Trần Thị Thìn - Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169