Hỏi đáp pháp luật Dân sự

  • Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản

    • 11/09/2020
    • Lê Thị Thanh Quỳnh
    • Luật sư tư vấn về việc phân chia di sản thừa kế trong trường hợp người chết không để lại di chúc. Quy định của pháp luật về hàng thừa kế, thời hiệu yêu cầu phân chia di sản thừa kế là bất động sản. Nếu bạn gặp vấn đề này cần tư vấn, hỗ trợ giải đáp những thắc thắc, đưa ra hướng giải quyết đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn, bạn hãy liên hệ đến công ty Luật Minh Gia chúng tôi.

    1. Tư vấn về vấn đề thừa kế theo pháp luật.

    Chế định thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật. Trong mối quan hệ này, người có tài sản có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác trước khi họ chết. Các tài sản mà họ để lại được gọi là di sản thừa kế. Trong trường hợp người để lại di sản không định đoạt tài sản của mình bằng di chúc thì di sản được phân chia theo quy định của pháp luật.

    Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế đều được tòa án giải quyết. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này do người thừa kế không nắm rõ các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế nên khi nộp đơn yêu cầu phân chia đa số đều hết thời hiệu. Vậy thời hệu yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật là như thế nào? Nếu bạn gặp vấn đề này nhưng không có thời gian tìm hiểu quy định của pháp luật, bạn hãy liên hệ đến công ty Luật Minh Gia bằng cách gửi câu hỏi tư vấn hoặc Gọi  1900.6169, luật sư sẽ tư vấn cho bạn những nội dung sau:

    + Thời điểm mở thừa kế ;

    + Hàng thừa kế ;

    + Thủ tục yêu cầu phân chia di sản thừa kế ;

    2. Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản.

    Câu hỏi: Bố mẹ chết không để lại di chúc từ năm 1994, người anh cả đã sang tên đối với di sản là đất đai mà những người em khác trong gia đình không biết. Đến nay những người em muốn yêu cầu chia thừa kế có được không?

    Bố mẹ tôi sinh được 4 người con, 3 trai và 1 gái.Anh cả dậy học ở địa phương, chị gái đi lấy chồng. Tôi và 1 người anh đi bộ đội và công tác ở miền nam từ năm 1981 và năm 1983 đến nay. Hàng năm chúng tôi vẫn về thăm gia đình và quê hương.Mẹ tôi mất sớm. Bố tôi mất năm 1994 thọ 84 tuổi và không để lại di chúc gì về đất đai. Hiện nay chúng tôi biết vợ chồng người anh cả đã làm chủ quyền sử dụng đất mà đứng tên một mình và không hề thông qua chúng tôi. Vậy người anh cả của chúng tôi có vi phạm luật đất đai không? Nếu chúng tôi muốn lấy lại phần đất của mình thì phải làm gì. Người chị gái đi lấy chồng có được hưởng phần tài sản đó không? Cơ quan quản lý nhà nước cấp chủ quyền sử dụng đất đã vi phạm như thế nào. Diện tích nhà đất là 1.078 m2. Xin cảm ơn quí cơ quan.

    Trả lời tư vấn: Xin chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

    Theo quy định của pháp luật dân sự thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết và kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

    Điều 656 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

    "1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:

    a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;

    b) Cách thức phân chia di sản. Để thực hiện việc thanh toán và phân chia di sản thì những người hưởng thừa có thể

    2. Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản."

    Như vậy những người thừa kế sẽ thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều này để thanh toán và phân chia di sản. Tuy nhiên bố ban đã mất từ năm 1994 đến nay, trong khoảng thời gian đó gia đình bạn không thực hiện họp mặt những người thừa kế để thực hiện công việc tại điểm a điểm b khoản 1 điều này. Mà người anh cả của bạn là người ở cùng bố, mẹ bạn và trực tiếp quản lý sử dụng mạnh đất đó cho đến nay mà không hề xảy ra tranh chấp gì.

    Điều 100 Luật Đất Đai 2013 quy định:

    "1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các laoi jgiấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

    a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

    c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

    d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

    đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

    e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế đọ cũ cấp cho người sử ndụng đất;

    ..."

    Điều 21 nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về các căn cứ xác định đất ổn định. Trong thời gian sử dụng ổn định người sử dụng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính được ghi trong các giấy tờ liên quan như biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất...Và thời gian  từ năm 1994 đến nay anh cả bạn đã thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đâylà một căn cứ để xác định việc sử dụng đất ổn định.  

    Do đó theo quy định trên thì anh cả bạn có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Vì ậy khi anh cả bạn  được cấp giấy chứng nhận QSDĐ là đúng quy định của luật đất đai. Việc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo yêu cầu của anh bạn và căn cứ vào điều kiện được cấp giấy chứng nhận là phù hợp với quy định của luật đất đai 2013. Việc phải có chữ ký của những người thừa kế thì mới sang tên được thì do thực tiễn mỗi địa phương lại có quy định khác nhau do vậy bạn thử tìm hiểu xem ở địa phương bạn quy định như thế nào.

    Điều 651 BLDS 2015 quy định Người thừa kế theo pháp luật:

    "1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

    b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

    c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

    2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

    3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

    Theo quy định trên thì chị gái bạn thuộc hàng  thừa kế thứ nhất do đó dù chị  bạn đã đi lấy chồng nhưng vẫn được hưởng  di sản mà bố, mẹ bạn để lại.

    Điều 623 BLDS 2015 quy định thời hiệu thừa kế, theo đó thời Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Như vậy tính đến thời điểm này từ khi bố bạn mất đã được 23 năm và vẫn còn thời hiệu để yêu cầu chi di sản là bất động sản. Do đó bạn vẫn lấy được phần di sản thừa kế mà anh bạn đang quản lý. Để yêu cầu chia di sản thừa kế bạn làm đơn yêu cầu gửi đến tòa án cùng với giấy tờ liên quan.

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Bài viết nổi bật
 Gửi yêu cầu tư vấn