Hỏi đáp pháp luật Dân sự

  • Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chủ tịch UBND xã?

    • 08/03/2019
    • Luật sư Trần Khánh Thương
    • Câu hỏi đề nghị tư vấn: Xin chào công ty Luật Minh GiaTôi có câu hỏi muốn nhờ công ty tư vấn giúp cụ thể: ngày 10/3/2017 tôi đang xây dựng công trình ngoài bãi sông với kích thước 40m2 cách chân đê phía sông 40m cách mép nước 15m. Ủy ban nhân dân xã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về đất đai, đê điều.

     

    Rồi có quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo nghị định 139/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013  là 5 triệu đồng buộc khắc phục hậu quả là tháo dỡ toàn bộ công trình.Tôi xin hỏi ủy ban nhân dân xã có được phạt như thế không, có sai thẩm quyền không. Tôi đọc nghị định 139/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 ủy ban nhân dân xã  phạt tiền đến 5 triệu đồng nhưng theo điều 13 khoản 1 của nghị định này phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 15 triệu đồng liệu có mâu thuẫn. Theo tôi xã xử phạt thế này là sai. Mong quý công ty giúp gia đình tôi.

     

    Trả lời tư vấn: Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, Đối với yêu cầu hỗ trợ của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

     

    Theo quy định tại khoản 4 Điều 23 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định:

     

    4. Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt.

     

    Hành vi bạn vi phạm có mức phạt cao nhất là 15 triệu, mức thấp nhất là 5 triệu. Thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực này của chủ tịch UBND xã là phạt tiền đến 5tr. Nếu có căn cứ cho thấy bạn vi phạm, tuy nhiên có nhiều tình tiết giảm nhẹ để có thể xử phạt ở mức phạt thấp nhất là 5tr thì chủ tich UBND xã vẫn có thể ra quyết định xử phạt hành chính.

     

    --------------

    Câu hỏi thứ 2 - Xử lý hành vi vu khống nhằm bôi nhọ danh dự

     

    Tôi năm nay 27 tuổi. Hiện tôi đang làm nhà trên mảnh đất có bìa đỏ đứng tên. Ngày vừa qua khi đang xây nhà thì các cán bộ xã lên kiểm tra và nói có người kiện gia đình tôi xâm chiếm đất bất hợp pháp nhằm bôi nhọ danh dự gia đình tôi. Đến khi gia đình tôi cầm sổ đỏ ra cho xã kiểm tra thì gia đình tôi làm nhà trên đất nhà mình. Gia đình tôi có hỏi ai là người viết đơn tố cáo thì xã khong cho biết. Vậy tôi muốn hỏi bên luật sư là tôi muốn viết đơn kiện tội vu khống, bôi nhọ danh dự người khác có được không? Và trình tự viết đơn ra sao? Rất kính mong bên luận sư giải đáp cho. Gia đình tôi xin chân thành cảm ơn.

     

    Trả lời: Đối với yêu cầu hỗ trợ của anh/chị chúng tôi tư vấn cụ thể như sau: 

     

    >> Xử lý hành vi xúc phạm danh dự, vu khống cá nhân

     

    Về hành vi vu khống nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác, pháp luật có quy định như sau:

    Tại Điều 122 Bộ luật hình sự quy định về Tội vu khống như sau:

    “1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

    3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

    Như vậy, theo quy định trên, người nào có hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội vu khống.

     

    - Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi danh dự, nhân phẩm bị xâm hại:

     

    Điều 592 Bộ luât dân sự 2015 có quy định về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm:

     

    "1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

    a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

    b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

    c) Thiệt hại khác do luật quy định.

    2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định".

     

    Người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác sẽ có trách nhiệm bồi thường theo quy định trên.

     

    Tuy nhiên, với thông tin mà bạn cung cấp thì có thể thấy hành vi của người tố cáo/kiện gia đình bạn lấn chiếm đất bất hợp pháp chưa rõ ràng (có thể chỉ là đơn thư nặc danh), cũng chưa phải là hành vi cố ý bịa đặt, loan truyền rộng rãi nhằm xúc phạm bôi nhọ danh dự của gia đình bạn. 

     

    Bạn tham khảo để giải đáp thắc mắc của mình!

     

    Trân trọng
    P.Luật sư trực tuyến – Công ty Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169