LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Tặng cho tài sản là tiền có đòi lại được không?

Hiện nay, có rất nhiều trường hợp cá nhân nhận tặng cho tiền của một người quen biết trên mạng xã hội nhưng lại không hề có bất cứ giấy tờ gì chứng minh việc mình nhận tặng cho. Từ đó phát sinh những vấn đề khi mà các bên xảy ra mâu thuẫn và yêu cầu hoàn trả số tiền đã được nhận. Vậy liệu rằng có hay không việc vi phạm pháp luật hình sự trong trường hợp này hay không? Các bên cần những lưu ý gì để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Câu hỏi tư vấn: Cách đây 5 tháng, tôi có quen 1 người đàn ông Malaysia khoảng 45 tuổi. Ông ta rất muốn tôi để ý và quan tâm tới ông ta nên làm mọi cách để lấy lòng tôi. Ông ta có đề nghị tôi đưa số tài khoản ngân hàng để ông chuyển tiền là 16,000 USD cho tôi.

Lúc đầu tôi rất lo lắng vì chưa bao giờ có ai cho mình nhiều tiền như thế nên không nhận nhưng người đàn ông kia trấn an là ông ấy chuyển tiền để giúp đỡ cuộc sống của tôi thôi. Ông ta đã chuyển tiền qua Ngân hàng cách đây 4 tháng, bằng chứng duy nhất là giấy chuyển tiền từ ngân hàng của ông ta. Qua một thời gian tìm hiểu, do bất đồng ngôn ngữ và tính cách nên xảy ra nhiều mâu thuẫn, ông ta trở mặt, thẳng thừng đòi lại số tiền đó và dọa sẽ kiện tôi và làm cho tôi mất việc. Xin cho tôi hỏi, việc làm của tôi liệu có phạm tội hay không? Tôi không rõ liệu mình có bị người đó vu cho tội lạm dụng sự tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản hay không? Số tiền đó tôi mới lo cho cuộc sống 1 phần, tôi có nên trả phần còn lại cho ông ta không? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời câu hỏi tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Minh Gia, sau khi nghiên cứu trường hợp của bạn chúng tôi đưa ra nội dung tư vấn như sau:

Thứ nhất, về hành vi nhận tiền từ người đàn ông ngoại quốc

Theo quy định tại Điều 457 Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng tặng cho tài sản

Điều 457. Hợp đồng tặng cho tài sản

"Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận."

Việc người đàn ông đó chuyển số tiền 16.000 USD vào thẻ ngân hàng của bạn được coi là một hợp đồng tặng cho tài sản. Hợp đồng tặng cho trên có hiệu lực kể từ thời điểm bạn là bên nhận tặng cho đồng ý nhận. Mà hai bên là chị và bên người bạn kia cũng không hề có thỏa thuận về điều kiện của hợp đồng do đó bạn không có nghĩa vụ phải hoàn trả số tiền đã được nhận tặng cho. Bạn đã sử dụng một phần số tiền đó và phần còn lại việc trả lại hay không trả cho người gửi hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của bạn.

Thứ hai, về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Theo quy định tại Khoản 35 Điều 1 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 sửa đổi, bổ sung Điều 175 Bộ Luật hình sự 2015 thì hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được xác định như sau:

"Điều 1. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ...

35. Sửa đổi, bổ sung Điều 175 như sau: “Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

..."

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, trường hợp của bạn nhận tiền từ người đàn ông mang quốc tịch Malaysia chỉ làm phát sinh hợp đồng tặng cho tài sản theo quy định tại Điều 457 Bộ luật Dân sự 2015, không đủ yếu tố để cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015. 

Trân trọng!

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Liên hệ tư vấn