Tuấn Luật sư

Quyền cung cấp chứng cứ trong giải quyết vụ án dân sự.

Nội dung yêu cầu tư vấn: Xin cho em hỏi vấn đề đòi lại tài sản, cụ thể như sau: Ba em là bị đơn ạ. 10 năm trước ba em có làm thủ quỹ cho 1 hợp tác xã mía đường. Khi hợp tác xã giải thể có 1 số người dân chưa trả tiền lại cho hợp tác xã ạ.Ba em được phân công đòi lại số tiền dân còn thiếu.

 

Khi ban thanh tra của công ty xuống kiểm tra thì chủ tịch hơp tác xã có khai là ba em sẽ là nguời đi đòi số tiền dân thiếu HTX tổng cộng hơn 70triệu.Sau đó ba em đi đòi được 40 triệu về giao cho chủ tịch HTX và có chữ kí của ông. Khoảng 17triệu ba em thanh toán nợ phân bón, diêm của HTX với chủ vựa phân bón . Còn hơn 23 triệu tiền  thì công ty mía đường trực tiếp thanh toán với dân. Ko thông qua HTX nữa.

Hơn 10 năm thì Chủ tịch hợp tác xã bỗng nhiên đòi ba em phải trả 70triêu lại cho ông.

Và chữ kí trong phiếu giao tiền ba em viết tay là ko phải cuả ông. Sau khi kiểm định chữ viết thì đúng là chữ kí của ông. Thì ông bảo là ông chỉ kí chứ chưa nhận tiền.

Và các nhân chứng: thư kí (con trai ông), thủ qũy 1( bà con với gia đình ông) đều khẳng định là ba em chưa giao tiền lại cho HTX.

Về phía ba em thì có các chứng cứ sau: giấy giao tiền 40 có chữ kí của ông. Và các hóa đơn trả tiền 3 lần tổng cộng 16 triệu (xin cấp lại )của chủ vựa diêm. Nhưng tòa không chấp nhận vì quá hạn 15 ngày cung cấp chứng cứ.

Tòa không xem các chứng cứ mới mà chỉ xem kết luật của ban thanh tra đưa qua thôi. Rốt cuộc tòa xử ba em phải đền lại 70 triệu cho  HTX.

Vậy cho em hỏi. Ba em ko trả mà kháng án ra toà án tỉnh thì có được không và đề tăng khả năng thắng kiện thì phải cung cấp những chứng cứ nào? Xin cảm ơn luật sư.

 

=> Tư vấn pháp luật Dân sự, tố tụng dân sự, gọi 19006169 

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Thứ nhất, về việc kháng cáo.

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định sau:


Điều 273. Thời hạn kháng cáo

1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


Bên cạnh đó, Điều 272 Bộ luật này cũng quy định về đơn kháng cáo như sau:

 

Điều 272. Đơn kháng cáo

 

1. Khi thực hiện quyền kháng cáo, người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo.

 

Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:

 

a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;

 

b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo;

 

c) Kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;

 

d) Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo;

 

đ) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

 

Thứ hai, về việc giải quyết vụ án.

Việc Ba bạn có khả năng thắng kiện trong vụ việc này hay không cần phải căn cứ vào nội dung chi tiết của hồ sơ vụ án. Song dựa trên những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi xin đưa ra một số nhận định như sau:

Trước hết, về việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận chứng cứ mà Ba bạn cung cấp với lý do đã quá thời hạn cung cấp chứng cứ, là không có căn cứ pháp luật.

Cụ thể, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 có quy định vấn đề cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự như sau:

 

Điều 6. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

 

1. Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

 

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.

 

2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.

 

Theo quy định trên, cung cấp chứng cứ là quyền và cũng là nghĩa vụ của đương sự. Pháp luật về tố tụng dân sự không giới hạn thời gian đương sự cung cấp chứng cứ, theo đó đương sự sẽ có quyền cung cấp chứng cứ chứng minh trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Về một số tình tiết khác trong vụ việc: Theo như bạn trình bày, thì Ba bạn vẫn còn giữ một số giấy tờ quan trọng về việc đã thực hiện nghĩa vụ giao tiền cho Chủ tịch hợp tác xã và một số chủ thể khác. Và có thể thấy sự việc là căn cứ khiến Ba bạn thua kiện là người Chủ tịch HTX đã đưa ra được 2 người làm chứng để chứng minh cho việc người này chưa nhận tiền từ Ba bạn.

Điều 77Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về Người làm chứng

Điều 77. Người làm chứng

Người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng.

Theo quy định này, pháp luật không hạn chế việc người làm chứng là người thân thích với đương sự. Song giá trị lời khai của những người làm chứng là người thân thích của đương sự sẽ cần phải được xác minh kỹ lưỡng qua những chứng cứ khác.

Tóm lại, trong vụ việc này, Ba bạn có quyền kháng cáo để được xét xử phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm sẽ căn cứ vào những chứng cứ chứng minh mà các đương sự cung cấp để đưa ra bản án.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Quyền cung cấp chứng cứ trong giải quyết vụ án dân sự. . Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại 19006169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng!

Luật Gia: Nguyễn Thảo - Công ty Luật Minh Gia

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí