Hỏi đáp pháp luật Dân sự

  • Người thừa kế có quyền yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân không? Giải quyết tranh chấp về thừa kế như thế nào?

    • 25/01/2021
    • Triệu Lan Thảo
    • Thừa kế theo di chúc là gì? Thừa kế theo pháp luật là gì? Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thừa kế? Luật Minh Gia giải đáp thắc mắc liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp về thừa kế qua tình huống sau đây:

    1. Luật sư tư vấn Luật Dân sự

    Theo quy định pháp luật hiện hành, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật và hưởng di sản theo di chúc hoặc pháp luật. Đồng thời mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tuy nhiên trên thực tế cũng có một số trường hợp phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp liên quan đến quyền thừa kế này, phổ biến nhất là tranh chấp liên quan đến phân chia di sản thừa kế. Do vậy, để tìm hiểu các quy định của pháp luật về vấn đề này, anh/chị có thể tham khảo Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản pháp luật liên quan hoặc liên hệ với Luật Minh Gia chúng tôi để được tư vấn cụ thể. Ngoài ra anh/chị có thể tham khảo tình huống chúng tôi tư vấn sau đây để vận dụng linh hoạt vào trường hợp của mình.

    2. Tư vấn giải quyết tranh chấp về thừa kế

    Câu hỏi tư vấn: Luật sư cho e xin phép hỏi một việc, cụ thể như sau: Cha mẹ em có thửa đất T và nhà khoảng 1000m2 do ông bà nội để lại từ trước (khoảng năm 1985) mà không có di chúc. Cha mẹ e sinh được 7 người con trong đó có 3 trai và 4 người con gái. Thửa đất của gia đình e lúc này chưa được kê khai. đến năm 1996 xã có thông báo đi kê khai đất để cấp giấy chứng nhận QSD đất. Lúc này cha e đã mất, mẹ thì đã già, 3 chị gái e đã đi lấy chồng, em thì đi làm ăn xa lúc này nhà và đất do anh trai em (ông đào) ở chung với mẹ đi kê khai. từ đó giấy tờ đất điều đứng tên anh trai em (ông đào). năm 1998 ông anh thú 2 vì điều kiện không có đất ở nên mẹ và các anh chị em thống nhất viết giấy cắt cho anh thư 2 diện tích 200m2. đến năm 2016 có dự án đi qua. anh trai đầu đã tách thửa đất ra làm 10 thửa (kể cả diện tích cho anh thứ 2) và cho anh thứ 2 2 thủa đất và cho chị đầu của e 1 thửa. còn lại anh trai em cho con cái của mình. năm 1996 khi đi kê khai làm giấy chứng nhận thì không có sự thống nhất của e. Vậy cho em hỏi việc cấp Giấy CNQSD đất cho anh đầu của em là đúng hay sai? Em muốn làm đơn đòi quyền lợi cho mình về tài sản của cha mẹ thì có được hay không? Em mong tư vấn giúp. Em xin cảm ơn.

    Nội dung tư vấn: Chào anh/chị, cảm ơn anh/chị đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với câu hỏi của anh/chị, chúng tôi tư vấn như sau:

    Thứ nhất, xác định quyền thừa kế

    Căn cứ thông tin anh/chị cung cấp, bố mẹ anh/chị nhận thừa kế phần đất và nhà do ông bà nội để lại mà không có di chúc. Theo quy định tại Thông tư 81/TANDTC hướng dẫn giải quyết các tranh chấp thừa kế thì hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ góa (vợ cả góa, vợ lẽ góa) hoặc chồng góa, các con đẻ và con nuôi; bố đẻ, mẹ đẻ hoặc bố nuôi, mẹ nuôi. Do vậy, khi ông bà nội anh/chị mất không để lại di chúc thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau. Cũng theo quy định tại Thông tư 81/TANDTC thì người con dâu không được thừa kế di sản của bố, mẹ chồng nên xác định mẹ anh/chị không có quyền hưởng di sản thừa kế.

    Ngoài ra, thông tin anh/chị đưa ra không nêu rõ bố anh/chị có phải người thừa kế duy nhất hay không nên anh/chị cần cung cấp thêm thông tin để chúng tôi tư vấn cụ thể hơn. Để chia di sản thừa kế, anh/chị cần có căn cứ chứng minh rằng phần đất và nhà này thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bố anh/chị. Khi đó di sản thừa kế sẽ được chia theo hai trường hợp dưới đây:

    Trường hợp 1: Bố anh/chị mất có để lại di chúc

    Theo quy định tại Điều 634 Bộ luật Dân sự 1995:

    “Điều 634. Quyền thừa kế của cá nhân

    Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.”

    Do vậy, khi bố anh/chị mất có để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ được phân chia dựa trên ý chí của bố anh/chị. Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

    “Điều 672. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

    Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu như di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối hưởng di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 645 hoặc khoản 1 Điều 646 của Bộ luật này:

    1- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

    2- Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.”

    Theo đó, việc ông Đào đi kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đào chỉ hợp pháp khi ông Đào là người thừa kế duy nhất được hưởng di sản thừa kế và những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc từ chối hoặc không có quyền hưởng phần di sản này.

    Trường hợp 2: Bố anh/chị mất không để lại di chúc

    Trong trường hợp này, di sản thừa kế sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Theo quy định tại Điều 679 Bộ luật Dân sự 1995:

    “Điều 679. Người thừa kế theo pháp luật

    1- Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

    2- Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

    3- Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản.”

    Theo đó, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được xác định là vợ và 7 người con. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều được hưởng phần di sản bằng nhau nên mẹ anh/chị và các anh chị em của anh chị đều có quyền hưởng một phần di sản thừa kế gồm mảnh đất và nhà. Ông Đào chỉ được kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất từ chối nhận phần di sản này.

    Thứ hai, giải quyết tranh chấp về thừa kế

    Để giải quyết tranh chấp, anh/chị phải xác định những người có quyền thừa kế để xem xét việc ông Đào kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Đào có hợp pháp hay không. Trường hợp ông Đào không phải người thừa kế duy nhất được hưởng phần di sản thừa kế này thì anh/chị có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có di sản thừa kế để yêu cầu chia di sản thừa kế và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đào theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

    “Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

    1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

    a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

    …”

    “Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

    1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

    a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

    b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

    c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

    ...”

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề anh/chị yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác anh/chị vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Bài viết nổi bật