LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Ly hôn nhưng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên hai vợ chồng?

Luật sư tư vấn về trường hợp vợ chồng đã giải quyết ly hôn nhưng sau đó làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn thể hiện tên cả 2 vợ chồng sau đó chồng chết không để lại di chúc thì phần di sản thừa kế được chia thế nào? Cụ thể như sau:

Nội dung câu hỏi: Xin chào luật sư. Dượng tôi và vợ cũ li dị năm 2000. Đến năm 2008 dượng tôi được cấp 1 chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên "Hộ gia đình ông T (tên dượng tôi) và bà  L (vợ cũ). Hiện tại dượng tôi đã mất. Tại bản án li hôn năm 2000 dượng tôi có để lại toàn bộ tài sản cho bà L và mảnh đất cấp năm 2008 lúc đấy chưa thuộc quyền sử dụng đất của dượng tôi và bà L mà dượng tôi sau khi li hôn vài năm mới làm thủ tục xin cấp thêm. 1.Xin luật sư tư vấn tại sao Dượng và bà L đã li hôn và ko có khẩu trong cùng 1 sổ hộ khẩu mà trong giấy chứng nhận quyền sử đất vẫn có tên như trên (Sau khi li hôn giữa dượng và bà L ko có liên lạc với nhau). 2.Dượng và mẹ tôi có đăng ký kết hôn nhưng do điều kiện công tác nên Dượng ko chuyển khẩu về gia đình tôi mà tại thời điểm cấp bìa (2008) dượng tôi đang có tên trong hộ khẩu của một người bạn. Vậy có phải quyền sử dụng đất sẽ là của tất cả những người trong hộ khẩu kia không? 3. Hiện tại Dượng tôi đã mất thì quyền sử dụng đất sẽ được tính như nào? Có phải bà L sẽ không có quyền trên bìa đỏ mà dượng tôi xin cấp năm 2008? và sẽ chia theo luật thừa kế? 4.Bây giờ tôi muốn sang tên mảnh đất đấy cho 1 người trong hàng thừa kế của Dượng thì thủ tục sẽ như nào? 5.Hiện tại dượng tôi có 1 người con riêng trong trường hơp này nếu con riêng của Dượng tôi ko đồng ý sang tên cho 1 người trong gia đình thì có sang tên đc ko?Xin cảm ơn luật sư.

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cần tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia, với thắc mắc của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, với vấn đề đã li hôn mà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên hai vợ chồng

Khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Tài sản chung của vợ chồng như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung như sau:

“1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng kýquyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.”

Như vậy, căn cứ theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình tài sản là mảnh đất này của dượng bạn được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, do đó, đây được xác định là tài sản của chung của vợ chồng. Khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào nguồn gốc đất để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng, tài sản này được hình thành trước khi dượng bạn và bà L ly hôn nên mặc dù sau này dượng bạn mới được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trên Giấy chứng nhận vẫn ghi tên của cả hai vợ chồng.

Tuy nhiên, do nguồn gốc của mảnh đất này là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản của dượng bạn và bà L nên việc được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ gia đình là không phù hợp.

Thứ hai, về vấn đề Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên Hộ gia đình

Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định về Hộ gia đình sử dụng đất như sau:

“Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.”

Trong trường hợp của bạn, dượng bạn chỉ có chung sổ hộ khẩu với gia đình người bạn chứ không phải là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được công nhận quyền sử dụng đất nên gia đình người bạn của dượng bạn không được coi là hộ gia đình sử dụng đất. Do đó, mặc dù Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình dượng bạn nhưng gia đình bạn của dượng bạn sẽ không có quyền đối với mảnh đất này.

Thứ ba, về vấn đề thừa kế sau khi dượng bạn mất

Theo thông tin mà bạn cung cấp, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên dượng bạn và vợ cũ do đó trong trường hợp này bà L cũng sẽ có quyền đối với mảnh đất này tuy nhiên bà L chỉ có quyền đối với một nửa mảnh đất, phần còn lại vẫn thuộc quyền sử dụng của dượng bạn. Khi dượng bạn mất không có di chúc nên phần tài sản này sẽ được chia theo quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

...

2.  Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.”

Phần đất này của dượng bạn sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm vợ, cha, mẹ, các con của dượng bạn.

Nếu muốn để một người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cần phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các thành viên đồng thừa kế còn lại hoặc các thành viên thừa kế còn lại từ chối nhận di sản thừa kế thì mới có thể để cho một người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với phần đất thuộc sở hữu của dượng bạn. Nếu con riêng của dượng bạn không đồng ý để cho người thừa kế khác đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không thể thực hiện thủ tục sang tên được.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
CV tư vấn: Nguyễn Nhàn - Luật Minh Gia

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Liên hệ tư vấn