1. Trang chủ
  2.  › 
  3. Hỏi đáp pháp luật
  4.  › 
  5. Hỏi đáp Dân sự
  • Luật sư tư vấn về chia thừa kế theo di chúc

    • 04/11/2018
    • Lê Thị Thanh Quỳnh
    • Nội dung đề nghị tư vấn: Xin hỏi luật sư một câu Di chúc như thế nào được coi là hợp pháp và thời điểm có hiệu lực pháp luật của di chúc hợp pháp, cụ thể. Ông tôi có 2 vợ. Vợ cả được 2 người con gái. Vợ 2 có 3 gái và 1 trai. Năm 2003 ông viết di chúc giao lại toàn bộ tài sản cho người con trai có chứng thực của của ủy ban nhân dân xã, đã làm sổ đỏ.

     

    Hiện nay hai người con gái của bà cả làm đơn ra UBND xã đòi đất tổ cố ông cha. Ủy ban nhân dân xã bảo rằng di chúc này thực hiện theo luật mới mọi người có quyền thừa kế như nhau. Con nào cũng là con. Tôi muốn hỏi và nhờ luật sư tư vấn:

    - Thứ nhất: di chúc của ông nội tôi để lại có hiệu lực không nếu có thực hiện theo quy định nào.

    - Thứ 2: UBND xã tư vấn cho gia đình là chia đất làm sổ cho 2người có đúng không.

     

    Nội dung trả lời:

     

    Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Luật Minh Gia. Đối với trường hợp của bạn, tôi tư vấn như sau:

    Điều 630 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về Di chúc hợp pháp như sau:


    Điều 630. Di chúc hợp pháp

     

    1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

     

    a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

     

    b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

     

    2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

     

    3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

     

    4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

     

    5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
     

    Theo đó, di chúc ông bạn để lại được coi là hợp pháp nếu có đủ các điều kiện theo quy định trên, khi đó việc phân chia di sản của ông được thực hiện theo nội dung di chúc. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự có quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như sau:

     

    Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

    1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

    a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

    b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

    2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

    Như vậy, nếu ông bạn để lại toàn bộ tài sản cho người con trai thì ít nhất vợ của ông và những người con chưa thành niên hoặc thành niên nhưng mất khả năng lao động (nếu có) sẽ được hưởngphần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.

    Trường hợp di chúc không được công nhận giá trị pháp lý thì khối di sản ông để lại được phân chia theo pháp luật, cụ thể:

    Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

    1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

    b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

    c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

    2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

    3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

     

    Theo quy định này thì khi di sản thừa kế được chia theo pháp luật, những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất (vợ và các con của ông nội) sẽ được hưởng những phần di sản bằng nhau.Đồng thời, việc UBND xã trả lời hai người con gái cũng được hưởng phần di sản phải dựa trên căn cứ của pháp luật. 

     

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Luật sư tư vấn về chia thừa kế theo di chúc. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

     

    Trân trọng

    CV Lê Yến - Công ty Luật Minh Gia.

Bài viết nổi bật

Tư vấn pháp luật miễn phí

Gọi: 1900 6169