Nguyễn Thị Biển

Làm thế nào khi nghi ngờ công ty xuất khẩu lao động có dấu hiệu lừa đảo?

Luật sư giải đáp thắc mắc của khách hàng liên quan đến công ty dịch vụ xuất khẩu lao động có dấu hiệu lừa đảo yêu cầu nộp hồ sơ và chi phí thi tuyển. Trường hợp như vậy người tham gia thi tuyển có được rút hồ sơ hay không? Nội dung tư vấn như sau:

Xin chào luật sư! Tôi xin trình bày vấn đề của tôi mong luật sư tư vấn. Tôi tham gia thi tuyển lao động ở công ty J, phí hồ sơ thi tuyển 5 triệu đồng, trước khi thi tuyển vài ngày gia đình tôi có phát sinh vấn đề về tài chính, nguyện vọng gia đình không đồng ý để tôi thi tuyển tại công ty J. Tôi liên hệ với tư vấn viên xin rút hồ sơ để nhường cơ hội cho người khác, người tư vấn vẫn buộc tôi dự thi, và thông báo 2 tuần sau có kết quả để giải quyết việc tôi xin rút hồ sơ. Nhưng từ đó đến nay đã hơn 20 ngày tôi không nhận được bất kì thông báo nào từ công ty J để giải quyết vấn đề của tôi. Hiện tại tôi đang có dự định phỏng vấn xuất khẩu lao động tại 1 công ty khác nhưng bị từ chối làm hồ sơ do bên phía J không thông báo kết quả và giải quyết thoả đáng yêu cầu xin rút hồ sơ của tôi ở công ty J.

Xin hỏi luật sư liệu công ty J làm như trên có thể coi là xâm phạm lợi ích và nhu cầu chính đáng của tôi hay không? Hiện tại đã hơn 20 ngày không công bố kết quả và giải quyết yêu cầu của tôi là xin rút hồ sơ, ảnh hưởng trực tiếp là tôi không thể tham gia phỏng vấn ở công ty khác, làm mất thời gian. Liệu đây có phải dấu hiệu lừa đảo người lao động, 1 chiêu trò để cưỡng đoạt tiền hồ sơ dự thi của người lao động không? Và vấn đề này phải giải quyết như thế nào? Rất mong nhận được sự tư vấn từ phía luật sư. Kính chào và chúc sức khoẻ quý luật sư.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, với vụ việc của bạn chúng tôi hỗ trợ tư vấn như sau:

Thứ nhất, liên quan đến thỏa thuận xuất khẩu lao động.

Để giải quyết những vấn đề liên quan đến thời gian tuyển chọn, công bố kết quả hay thời gian giải quyết rút hồ sơ thì cần căn cứ theo thỏa thuận từ trước giữa hai bên. Trường hợp có thỏa thuận cụ thể về vấn đền thời gian giải quyết mà hiện tại đã vi phạm thì bạn có quyền yêu cầu phía công ty dịch vụ xuất khẩu lao động thực hiện nếu không thực hiện thì có quyền gửi yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Tòa án để giải quyết.

Theo quy định tại điểm c Tiểu mục 1 Mục 5 Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH ngày 08 tháng 10 năm 2007 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quy định:


 
 “Doanh nghiệp dịch vụ phải cam kết với người lao động về thời gian chờ xuất cảnh sau khi người lao động trúng tuyển đi làm việc ở nước ngoài.


Trong thời gian doanh nghiệp dịch vụ đã cam kết, nếu người lao động không có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài nữa thì doanh nghiệp dịch vụ phải trả lại hồ sơ cho người lao động và người lao động phải chịu các khoản chi phí mà doanh nghiệp dịch vụ đã chi (nếu có) để làm thủ tục cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài, gồm: chi phí làm hồ sơ, khám sức khỏe, học phí bồi dưỡng kiến thức cần thiết, chi phí tài liệu học tập, ăn, ở trong thời gian đào tạo bồi dưỡng kiến thức cần thiết, chi phí làm thủ tục nhập cảnh (visa).



Nếu quá thời gian đã cam kết mà doanh nghiệp dịch vụ vẫn chưa đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì phải thông báo rõ lý do cho người lao động. Trường hợp người lao động không có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài nữa thì trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày người lao động thông báo không có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp dịch vụ phải hoàn trả cho người lao động hồ sơ, các khoản chi phí mà người lao động đã nộp cho doanh nghiệp, gồm: chi phí làm hồ sơ, học phí bồi dưỡng kiến thức cần thiết, chi phí làm thủ tục nhập cảnh (visa), vé máy bay, tiền dịch vụ, tiền môi giới và làm thủ tục hoàn trả tiền ký quỹ cho người lao động.”

Theo đó pháp luật hiện hành chỉ có quy định về trường hợp người lao động đã trúng tuyển đi làm việc ở nước ngoài mà không còn nhu cầu làm việc nữa thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày người lao động thông báo không có nhu cầu đi thì công ty dịch vụ phải giải quyết trả hồ sơ. Do đó trường hợp của bạn cần căn cứ theo các cam kết hoặc thỏa thuận giữa các bên về vấn đề này để yêu cầu trả hồ sơ cũng như thông báo tuyển chọn.

Thứ hai, liên quan đến nghi vấn công ty dịch vụ có dấu hiệu lừa đảo:

Căn cứ theo quy định tại điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

....."

Như vậy, chỉ khi đối tượng thực hiện hành vi đáp ứng đầy đủ những dấu hiệu trên đây thì mới có thể bị khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt . Tuy nhiên, theo quy định pháp luật hình sự thì pháp nhân chỉ chịu trách nhiệm về các tội theo quy định tại điều 76 BLHS năm 2015, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không thuộc trong trường hợp này. Do đó nếu có người trong doanh nghiệp có hành vi đưa những thông tin, thủ đoạn lừa dối nhằm cho bạn tin là đúng sự thật và đưa khoản tiền cho họ thì người này xác định là hành vi lừa đảo. Khi đó bạn có quyền tố giác về hành vi này tại cơ quan có thẩm quyền như công an, tòa án, viện kiểm sát,... Trường hợp không có hành vi trên thì không xác định đây là hành vi phạm tội. 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng 

Phòng Luật sư tư vấn dân sự - Công ty Luật Minh Gia.

Gọi ngay