Trần Phương Hà

Không phải con đẻ nhưng sinh ra trong thời kỳ hôn nhân thì có được hưởng thừa kế?

Luật sư tư vấn trường hợp vợ ngoại tình sinh ra con trong thời kỳ hôn nhân thì khi vợ và đưa con này có được hưởng thừa kế khi người chồng chết. Nội dung tư vấn như sau

Nội dung câu hỏi:Chào luật sư,tôi có một vài vấn đề thắc mắc mong luật sư giải đáp hộ tôi. Được biết:-Ông chồng là chủ tịch tập đoàn có 20% cổ phần người cha ruột chuyển nhượng lại cho. Người thứ ba là cổ đông của tập đoàn (có 1 con trai và vợ đã qua đời) Hai vợ chồng đang trong thời kì hôn nhân người vợ ngoại tình và có con với người khác sau bị chồng phát hiện ra nhưng người chồng không ly dị mà lại âm thầm không nói gì cả. câu hỏi:

1.Sau đó anh ta chết vậy số tai sản của người chồng có chia cho vợ và người con không ?

2.Sau này nếu người thứ ba kia muốn đòi lại con trai từ cô được không?

Trả lời: Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Gia, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau

Thứ nhất, về vấn đề thừa kế

Theo thông tin bạn cung cấp, người chồng là chủ tịch tập đoàn có 20% cổ phần đã đăng ký kết hôn. Trong thời gian hôn nhân, người vợ đã có thai nhưng đứa con này không phải con của người chồng. Do đó cần làm rõ mối quan hệ giữa người chồng và người con dưới góc độ pháp luật. Tại thời điểm người chồng mất mà người chồng chưa làm thủ tục không công nhận cha cho con thì  pháp luật vẫn thừa nhận người con và người chồng có mối quan hệ cha con. Và người con được hưởng các quyền, nghĩa vụ đối với người bố của mình.

Theo quy định tại điều 609 Bộ luật dân sự 2015, người chồng có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình hoặc để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật.

Điều 609. Quyền thừa kế

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc

Trường hợp 1: Thừa kế theo di chúc

Trường hợp người chồng chết mà có để lại di chúc hợp pháp thì việc phân chia di sản thừa kế được xác định theo Điều 659 Bộ luật dân sự 2015 cụ thể như sau:

Điều 659. Phân chia di sản theo di chúc

1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

3. Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.”

Tuy nhiên những người thừa kế sau vẫn được hưởng phần di sản  mà không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 644 Bộ luật lao động 2015 bao gồm:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”

Như vậy, vợ và con chưa của người thành niên vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật trong trường hợp người chết lập di chúc không cho họ hưởng hoặc hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó

Trường  hợp 2: Thừa kế theo pháp luật

Trường hợp người chồng chết mà không để lại di chúc thì di sản của người chồng được thừa kế theo pháp luật. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 bao gồm:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Vợ và con là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên thuộc đối tượng được hưởng thừa kế từ người chồng cùng với các đồng thừa kế khác trong trường hợp thừa kế theo pháp luật.

Tuy nhiên, nếu  người chồng đã yêu cầu Tòa án không công nhận mối quan hệ cha con và đã có bản án của Tòa thì khi người chồng chết, người con chỉ được hưởng di sản nếu được chỉ định trong di chúc.

Thứ hai, quyền nuôi con trực tiếp

Do đứa trẻ sinh ra khi bố mẹ đẻ không trong thời kỳ hôn nhân nên người bố đẻ của em bé cần gửi đơn đến Tòa án nhân dân để yêu cầu công nhận mối quan hệ cha con. Khi Tòa án đã công nhận mối quan hệ cha con thì người bố đẻ mới có các quyền và nghĩa vụ của cha theo quy định pháp luật. Người bố đẻ có quyền gửi đơn ra Tòa án để yêu cầu giải quyết việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014, nếu bố mẹ không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng

Phòng Luật sư tư vấn Dân sự- Công ty Luật Minh Gia

Hotline: 1900.6169