Mai Hồng

Hợp đồng về tài sản chung của hộ gia đình được giải quyết như thế nào?

Luật sư tư vấn về vấn đề chia thùa kế tài sản của người để lại di sản trong khối tài sản chung của hộ gia đình.

Câu hỏi yêu cầu tư vấn:

Cho tôi tư vấn vấn đề sau: Sổ đỏ cấp tên hộ gia đình ông b năm 1995(hộ khẩu ông B lúc cấp sổ gồm 4 người: ông B, mẹ ông B và 2 con ông B chưa đủ 18 tuổi) có nguồn gốc như sau: 2/3 đất là tài sản chung của cha mẹ ông B, sau khi cha ông B mất năm 1987 thì 1/3 đất tiếp theo mới được hình thành, lúc hình thành 1/3 đất mới này hộ ông b trong hộ khẩu cũng như sinh sống trên đất này cũng gồm ông b, mẹ ông b, 2 con ông b chưa đủ 18 tuổi. Đến 1995 toàn bộ đất được cấp sổ đỏ tên hộ ông B. Đến 2010 hộ ông B tặng cho 1 người em gái ông B 100m vuông nhưng không có chữ ký của 2 con ông B (khi tặng cho chỉ có chữ ký của ông B, mẹ ông B, 2 em gái ông B) đã đủ tuổi thành niên thì có đúng pháp luật không?. Mẹ ông B mất năm 2012, giờ chỉ chia thừa kế phần đất mẹ ông B, thì phần đất của mẹ ông b trong sổ đỏ cấp tên hộ gia đình ông b được xác định như thế nào?, nếu phần đất đã tặng cho em gái không đúng pháp luật thì giờ có thu lại để nhập lại sổ đỏ hộ ông b để xác định lại phần tài sản của mẹ ông b để chia thừa kế không. Xin cảm ơn!

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ theo quy định tại Điều 212 về sở hữu chung của các thành viên trong gia đình quy định:

1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này.”

Nếu mảnh đất là tài sản chung của gia đình đứng tên hộ ông B thì khi xác lập hợp đồng tặng cho cần phải có sự đồng ý của tất cả các thành viên trong hộ gia đình đã thành niên và có năng lực hành vi dân sự.  Trường hợp của bạn, nếu xác lập giao dịch dân sự mà không có sự đồng ý của 2 con đã thành niên thì giao dịch đó có thể bị vô hiệu.

Khi bị tuyên vô hiệu, theo quy định pháp luật dân sự thì giao dịch sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự của các bên tham gia giao dịch dân sự kể từ thời điểm giao dịch dân sự được xác lập. Các bên trong hợp đồng sẽ trả lại cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp trên, Khi mẹ ông B mất tài sản chung của gia đình có thể được chia cho các thành viên trong gia đình mỗi người một phần bằng nhau. Sau khi xác định được di sản thừa kế của mẹ ông B, nếu mẹ ông B để lại di chúc hợp pháp sẽ chia theo di chúc, nếu người để lại di sản không lập di chúc sẽ chia theo pháp luật. Điều 651 về thừa kế theo pháp luật quy định:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Theo quy định của pháp luật thì hàng thừa kế của mẹ ông B bao gồm ông B và những người con khác của mẹ ông B, Cha mẹ, chồng (nếu còn sống). Những người ở cùng hàng thừa kế thứ nhất sẽ được chia một phần di sản bằng nhau (trừ trường hợp bị tước quyền nhận di sản theo quy định của pháp luật.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.

Phòng tư vấn – Công ty Luật Minh Gia.

Hotline: 1900.6169