Luật sư Trần Khánh Thương

Hỏi về quyền thừa kế tài sản của con và điều kiện xác nhận quan hệ cha con

Xin chào các anh/chị luật sư Em tên là A. Em xin tư vấn anh chị về luật sau: Em là con thứ nhất trong gia đình có 3 anh/chị em (Em xin nói thêm là em có 01 chị gái xinh năm 197x là chị cùng cha khác mẹ với em). Trước đây khoảng năm 1997 để có điều kiện đi làm ăn và học tập ở nước ngoài bố mẹ em đã tiến hành nhận thêm 01 người con nuôi và hạ tuổi đi đồng thời tiến hành ly hôn để thực hiện ước mơ đi nước ngoài.

 

Trong giấy phán quyết của tòa án nhân dân Huyện thì có đoạn như sau: Mẹ em nuôi 2 em cùng mẹ cùng bố với em B và C, Bố nuôi 02 là tên ai đó vì tên các con khi đó cũng bị làm giả. 

Bố em không đi nước ngoài theo giấy khai sinh và chứng mình thư ghi sai ngày và nếu theo đúng giấy tờ đó thì em không phải là con ai hết. Năm 2005 Bố em có đứng ra mua một mảnh đất tại X trong đó ghi rõ em là con gái làm chứng. Hiện tại Bố em đã mất (Bố mất năm 2006)

Vậy Luật sư cho em hỏi Hiện tại mảnh đất ở quê (Trong giấy của tòa khi ly hôn không ghi gì đến tài sản) mẹ em có quyền như thế nào và em có quyền như thế nào ah. Em có được hưởng gì không ah. Hiện tại mảnh đất ở X thì sao ah?  E trân trọng cảm ơn.

 

>> Tư vấn quy định về quyền thừa kế tài sản, gọi 19006169

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng chúng tôi và gửi câu hỏi tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Chào chị, do vấn đề của chị khá phức tạp vì liên quan đến nhiều loại giấy tờ, trong đó có những giấy tờ bị làm giả và có những sự gian dối khi tiến hành các thủ tục ly hôn mà thông tin chị cung cấp chưa đủ để chúng tôi có những đánh giá và đưa ra lời tư vấn cụ thể theo yêu cầu của chị. Vì vậy, chúng tôi dẫn ra những quy định của pháp luật và giải thích một số vấn đề liên quan để chị tham khảo và đối chiếu với trường hợp của mình:

 

Thứ nhất, đối với mảnh đất ở quê.

 

Bạn cần xác định mảnh đất này hình thành vào giai đoạn nào? Có trước khi bố mẹ kết hôn hay trong thời kỳ hôn nhân? Nếu có trước khi kết hôn thì trên giấy CNQSDĐ ghi tên ai? Đó sẽ là căn cứ để xác định quyền sở hữu tài sản khi ly hôn.

 

Thời điểm ly hôn của bố mẹ bạn là năm 1997, quan hệ tài sản khi ly hôn sẽ được giải quyết theo luật HNGĐ 1986, cụ thể tại Điều 42 quy định:

 

“Khi ly hôn, việc chia tài sản do hai bên thoả thuận, và phải được Toà án nhân dân công nhận. Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định.

Việc chia tài sản khi ly hôn, về nguyên tắc, phải theo những quy định dưới đây:

a) Tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy;

b) Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên;

c) Trong trường hợp vợ chồng do còn sống chung với gia đình mà tài sản của bản thân vợ chồng không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức của người được chia đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, cũng như vào đời sống chung của gia đình. Lao động trong gia đình được coi như lao động sản xuất;

d) Khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của người con chưa thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp.”

 

Theo đó, nếu mảnh đất hình thành trước thời kỳ hôn nhân, là tài sản riêng của một người mà sau khi kết hôn, họ không thỏa thuận là tài sản chung hoặc hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng thuộc trường hợp tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng mà vợ chồng không có thỏa thuận đó là tài sản chung thì khi ly hôn, tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

Còn nếu hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng (trừ trường hợp tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng).

 

Khi ly hôn, về nguyên tắc, vợ chồng tự thỏa thuận về phân chia tài sản, nếu không thỏa thuận được thì sẽ yêu cầu tòa giải quyết.

 

Theo quy định của pháp luật thì cho dù là vợ chồng thỏa thuận hay tòa quyết định thì đều phải được tòa công nhận bằng văn bản. Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp, trong quyết định cho ly hôn của tòa không định đoạt về phân chia tài sản.

 

Như vậy rất có khả năng mảnh đất là tài sản riêng của một người và giữa hai người không có tài sản chung nào khác.

 

Thứ hai, việc phân chia tài sản của bố bạn khi mất:

 

Mảnh đất bố bạn mua năm 2005 (sau khi ly hôn) là tài sản riêng của bố bạn. Khi mất, tài sản này sẽ trở thành di sản thừa kế, bố bạn mất năm 2006, vì vậy luật áp dụng là Bộ Luật dân sự 2005. Nếu trên giấy tờ về mảnh đất ở quê xác định bố bạn là chủ sở hữu mảnh đất đó thì mảnh đất ở quê cũng được xác định là di sản thừa kế của bố bạn để lại.

 

Trường hợp bố bạn mất có để lại di chúc để định đoạt về tài sản thì tài sản thừa kế sẽ được thực hiện theo di chúc. Người được chỉ định cho hưởng di sản là người thừa kế theo di chúc và có quyền sở hữu đối với tài sản mà người chết để lại cho họ.

 

Trường hợp bố bạn mất không để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định người thừa kế theo pháp luật:

 

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

 

Thứ ba, quyền của bạn đối với các tài sản trên.

 

Nếu mảnh đất ở quê thuộc quyền sở hữu của mẹ bạn, thì bạn không có quyền gì đối với mảnh đất này.

 

Trường hợp đó là tài sản của bố bạn:

 

Nếu bố bạn mất có để lại di chúc mà không định đoạt cho bạn hưởng di sản thì bạn không có quyền sở hữu đối với di sản của bố bạn. Còn nếu trong di chúc có chỉ định cho bạn hưởng di sản thì bạn được hưởng phần di sản tương ứng như đã nghi trong di chúc mà không bị ảnh hưởng bởi việc trên giấy tờ, bạn không phải là con của bố bạn.

 

Nếu bố bạn mất không để lại di chúc, như trên đã phân tích, tài sản sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật. Cho nên nếu trên giấy tờ bạn không có quan hệ cha con với người đã mất thì bạn không được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.

 

Pháp luật có quy định về trường hợp nhận cha, mẹ con như sau:

 

Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con:

 

“1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.”

 

Theo đó, nếu như trong thực tế có quan hệ cha con thì bạn có thể yêu cầu Tòa án xác định cha con vì cha bạn đã mất, bạn cần chuẩn bị các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình như kết quả giám định ADN.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Hỏi về quyền thừa kế tài sản của con và điều kiện xác nhận quan hệ cha con. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng

Luật Gia: Trần Thị Thương - Công ty Luật Minh Gia

Hotline: 1900.6169