Nguyễn Thị Lan Anh

Giải quyết khoản vay đã quá hạn và cố tình trốn tránh nghĩa vụ như thế nào?

Giao dịch cho vay tài sản khi được xác lập sẽ phát sinh nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể của hợp đồng đều thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ. Vậy nếu bên vay tài sản không trả đúng hạn thì phải giải quyết như thế nào?

1. Luật sư tư vấn về nghĩa vụ trong giao dịch vay tài sản:

Hợp đồng vay tài sản được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay. Khi đến hạn trả, bên vay phải có nghĩa vụ hoàn trả  tài sản cho bên cho vay tài sản theo đúng thỏa thuận.

Theo đó, nếu chủ thể vay tài sản không thực hiện nghĩa vụ trên thì tùy thuộc vào tình tiết thực tế mà sẽ có các phương thức xử lý khác nhau. Nhưng dù giải quyết bằng phương thức nào thì chủ thể vay cũng phải tiến hành hoàn trả khoản nợ nói trên cùng với lãi suất theo thỏa thuận hoặc quy định pháp luật.

Nếu bạn đang có những vướng mắc tương tự, bạn hãy liên hệ ngay cho đội ngũ luật sư Luật Minh Gia của chúng tôi thông qua tư vấn trực tiếp tại văn phòng hoặc gọi quan tổng đài 1900.6169 để được tư vấn cụ thể.

2. Luật sư tư vấn về trường hợp bên vay cố tình không trả tài sản khi đã quá hạn hợp đồng:

Nội dung tư vấn: Chào luật sư, tôi muốn tư vấn về trường hợp sau: Năm 2017, tôi có cho một người đồng nghiệp vay 5 triệu đồng để giải quyết việc riêng, có giấy tờ chứng nhận của hai vợ chồng ký nhận tiền. Và trên giấy ghi rõ lãi suất 1000 VND/1 triệu/ 01 ngày. Khoản nợ này đã đến hạn trả cách đây 1 năm, nhưng họ không trả và đã nghỉ việc ở công ty để vào miền nam sống. Sau đó, tôi đã liên lạc nhiều lần nhưng họ không trả lời. Tháng 11 vừa rồi họ có về nhà, tôi biết và đã đến đòi nhưng bố mẹ họ giấu và cũng nói sẽ có trách nhiệm nhắc nhở trả nợ. Nhưng đến nay là gần một tháng, họ đã đi miền Nam tiếp nhưng không liên lạc với tôi về việc trả nợ hay khất hẹn. Họ cũng vay một số người khác và trường hợp giống như tôi. Với trường hợp trên, tôi phải làm gì để pháp luật có thể can thiệp và giúp đỡ. 

Trả lời: Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, đối với trường hợp trên chúng tôi tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn có cho một người bạn vay số tiền 5.000.000 đồng và có làm giấy vay nợ. Căn cứ quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Khi cho người bạn kia vay tiền, hai bên đã làm giấy vay nợ, và giấy vay nợ này có giá trị pháp lý tương đương như một hợp đồng vay tiền và được pháp luật công nhận. 

Căn cứ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 thì bên vay phải có nghĩa vụ trả nợ cho bên cho vay khi đã đến hạn. Trong trường hợp của bạn, đã hơn một năm kể từ ngày hết hạn vay nợ, người vay không trả nợ và bỏ đi nơi khác làm ăn.

Để đòi lại quyền lợi của mình, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi người bạn đó cư trú, làm việc yêu cầu giải quyết.

Tuy nhiên, khi quá hạn không thực hiện trả nợ theo hợp đồng, bạn cũng có thể đưa đơn trình báo tới cơ quan Công an để xử lý về trách nhiệm hình sự về tội danh Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Theo đó, nếu bạn của bạn có dấu hiệu cắt đứt liên lạc, bỏ trốn khỏi địa phương nhằm không trả lại số tiền hoặc có căn cứ cho rằng có đủ điều kiện trả nợ nhưng không trả lại cho bạn thì trách nhiệm hình sự với tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể sẽ đặt ra.

Do đó, bạn cũng có thể làm đơn tố cáo và gửi tới cơ quan công an yêu cầu giải quyết quyền lợi cho mình.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí