Hỏi đáp pháp luật Dân sự

  • Giá trị pháp lý của biên bản họp thỏa thuận phân chia di sản thừa kế?

    • 23/09/2020
    • Nông Hồng Nhung
    • Luật sư tư vấn về vấn đề phân chia di sản thừa kế theo pháp luật, giá trị pháp lý của biên bản họp thỏa thuận phân chia di sản thừa kế? Trình tự, thủ tục khi nhận, phân chia di sản thừa kế theo pháp luật và hướng giải quyết khi có tranh chấp phát sinh. Nếu gặp vấn đề này cần tư vấn, hỗ trợ bạn hãy liên hệ đến công ty Luật Minh Gia chúng tôi để được hỗ trợ một cách tốt nhất.

    1. Tư vấn về việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật.

    Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản thừa kế của người đã chết cho người sống theo quy định của pháp luật nếu người chết không để lại di chúc hoặc để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp. Vậy thủ tục khai nhận di sản thừa kế là như thế nào? Trình tự, thủ tục, cách thức xác lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được pháp luật quy định ra sao. Nếu bạn gặp vấn đề này nhưng không có thời gian tìm hiểu quy định của pháp luật, bạn hãy liên hệ đến công ty Luật Minh Gia bằng cách gửi câu hỏi tư vấn hoặc Gọi  1900.6169, luật sư sẽ tư vấn cho bạn những nội dung sau:

    + Thừa kế theo pháp luật ;

    + Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật ;

    + Hướng giải quyết khi có tranh chấp phát sinh ;

    2. Giá trị pháp lý của biên bản phân chia di sản thừa kế.

    Nội dung tư vấn: Kính gửi luật Minh Gia, Tôi xin tư vấn trường hợp như sau: Ông bà tôi, sau khi mất không để lại di chúc trên mảnh đất 1330m2, ông bà có 7 người con (2 người là con riêng của bà, 5 người con chung của ông bà). Bố tôi là con trai trưởng, phụng dưỡng ông bà từ khi các con cái ra ở riêng, bố tôi có 3 người con (2 gái, 1 trai). Năm 2014 bố tôi mất, cũng không có di chúc. Toàn bộ 1330m2 (đất được chia cho cô út và nhà tôi) chưa có sổ đỏ, đến năm 2015 anh trai tôi làm sổ đỏ 700m2 (có chữ ký + biên bản của các cô chú trong dòng họ, trong số đó có 1 chú đã mất nên chữ ký là của thím).

    Như vậy cho tôi hỏi biên bản có giá trị không ạ? Vì theo như người chú đang muốn tranh chấp đất đai nhà tôi, yêu cầu nhà tôi phải chia cho 1/2 số đất nhà tôi đã làm sổ để làm nhà thờ tổ tiên, và nói sẽ làm đơn kiện ra tòa vì gia đình không đủ khả năng thờ cúng ông bà tổ tiên, nếu nhà tôi không đồng ý. Trong biên bản ký đồng ý cho mẹ tôi đứng tên trên sổ đỏ, họ nói còn thiếu chữ ký của 2 người con chú tôi đã mất, và biên bản không có giá trị.

    Mong anh/chị tư vấn. Xin trân thành cảm ơn!

    Trả lời tư vấn: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

    Trong trường hợp này, ông bà mất không để lại di chúc, do đó, di sản thừa kế mà ông bà để lại sẽ được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bà theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015:

    “1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

    ...

    2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

    ...”

    Theo quy định này, vấn đề phân chia di sản thừa kế sẽ được thực hiện theo sự thỏa thuận của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (đối với 5 người con chung của ông bà sẽ được hưởng di sản; 2 người con riêng của bà nếu không phát sinh quan hệ nuôi dưỡng với ông thì chỉ hưởng trong phạm vi phần di sản của bà). Nếu phát sinh tranh chấp, các bên có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu phân chia di sản thừa kế.

    Vậy trong trường hợp này, khi ông bà mất, gia đình bạn đã có văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, đây chỉ là sự giao kết của các bên chứ chưa được công chứng theo quy định tại Điều 57 Luật Công chứng 2014:

    “1. Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản.

    Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác.

    2. Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.

    Trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trường hợp thừa kế theo di chúc, trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có bản sao di chúc.

    3. Công chứng viên phải kiểm tra để xác định người để lại di sản đúng là người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp luật thì từ chối yêu cầu công chứng hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định.

    Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản trước khi thực hiện việc công chứng.

    4. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản.”

    Do đó, văn bản thỏa thuận này sẽ không phát sinh hiệu lực, và không có giá trị trên thực tế. Như vậy, nếu những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bà bạn có nhu cầu phân chia di sản để làm nhà thờ tổ tiên thì các bên có thể thỏa thuận với nhau; thỏa thuận phải được ghi nhận bằng văn bản và được công chứng theo quy định nêu trên. Trường hợp không thỏa thuận được có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết chia di sản thừa kế theo pháp luật.

    Vậy, khi các bên tiến hành thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thì trong văn bản thỏa thuận phải có chữ ký của tất cả những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Trường hợp bố bạn mất sau ông bà bạn thì bố bạn vẫn có quyền thừa hưởng phần di sản mà ông bà để lại; và phần di sản mà bố bạn được thừa hưởng từ ông bà sẽ trở thành di sản thừa kế cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố bạn. Do đó, khi tiến hành phân chia di sản thừa kế mẹ bạn và các con (những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố bạn) có quyền ký văn bản này. Còn đối với chú bạn thì theo dữ liệu ban đầu bạn cung cấp không nêu rõ chú bạn mất trước hay mất sau ông bà nên sẽ có hai trường hợp giải quyết như sau:

    Trường hợp chú mất trước ông bà thì con của chú sẽ được thừa hưởng phần di sản mà chú bạn có thể được nhận nếu còn sống theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015:

    Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

    Như vậy, trong trường hợp này, các con của chú sẽ có quyền ký vào văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

    Trường hợp chú của bạn mất sau ông bà thì chú của bạn vẫn được thừa hưởng phần di sản mà ông bà để lại. Và khi tiến hành thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, vợ chú và các con vẫn có quyền ký vào văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi để được hỗ trợ kịp thời.

    Hotline: 1900.6169