Hoàng Tuấn Anh

Gây tai nạn giao thông không có khả năng bồi thường phải chịu trách nhiệm như thế nào?

Luật sư tư vấn về trường hợp người lái xe tải gây tai nạn giao thông thiệt hại về tài sản không có khả năng bồi thường phải chịu trách nhiệm như thế nào?

 

Nội dung câu hỏiCách đây vài ngày bố cháu gây tai nạn, (phương tiện là xe tải bố cháu tông vào xe tải khác làm hư hỏng: thùng, gảy cầu, móp đầu). Giá trị xe đó 1ty260tr, khi bố cháu tai nạn là đoạn đường đang thi công nên bố lái qua đường dành cho chiều ngược lại, không may tông vào cục bê tông được chắn ngang để báo phía trước đang thi công, thì bố cháu bị hách ra thoát chết, xe tải kia bị ngã nghiêng làm hư hỏng xe như cháu trình bày như trên, tài xế và phụ không sao! Giờ nếu bố cháu không đền bù nổi số tiền mà họ đưa ra thì mức án sẽ như thế nào ạ?

 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Theo như thông tin bạn cung cấp, bố bạn (ông A) lái xe tải sang đường ngược chiều và đâm phải 1 xe tải khác gây hư hỏng tài sản. Về việc gây tại nạn thì bên phía cơ quan điều tra đã có quyết định rõ ràng hay chưa? Nếu như phần lỗi thuộc về bên ông A gây thiệt hại đến tài sản của người khác thì ông A phải bồi thường.

 

Tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

 

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

 

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

 

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”

 

Điều 585  Bộ luật dân sự 2015  quy định về Nguyên tắc bồi thường thiệt hại:

 

“1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

 

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

 

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

 

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

 

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình."

 

Theo quy định của pháp luật, trường hợp người nào có lỗi xâm phạm tài sản của người khác thì có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Khi người gây tai nạn không thực hiện trách nhiệm bồi thường của mình, người được bồi thường có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết và bảo vệ quyền lợi của mình trên cơ sở căn cứ Điều 26, 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án.

 

 Người gây tai nạn có hành vi vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ gây tai nạn dẫn tới hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc trường hợp được quy định sau:

 

Theo Khoản 72 Điều 1 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định:

 

72. Sửa đổi, bổ sung Điều 260 như sau: 



“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 



1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: 



a) Làm chết người; 



b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; 



c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; 



d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 



2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: 



a) Không có giấy phép lái xe theo quy định; 



b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác; 
 


c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 



d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông; 



đ) Làm chết 02 người; 



e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; 



g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng. 



3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: 



a) Làm chết 03 người trở lên; 



b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; 



c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên. 



4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. 
 


5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.

 

Do đó, để áp dụng các quy định trên vào việc xử lý vi phạm của người gây tai nạn thì cần có quyết định chính xác từ phía cơ quan điều tra, nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì đối chiếu theo quy định tương ứng với khung hình phạt nêu trên.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng.
CV tư vấn: Lê Phương Thảo - Luật Minh Gia

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí