Hỏi đáp pháp luật Dân sự

  • Đòi lại tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất

    • 30/10/2017
    • Nguyễn Thu Trang
    • Tư vấn về vấn đề thừa kế theo pháp luật, người thừa kế xác nhận cho người khác nhận quyền thừa kế của mình bằng văn bản rồi nhưng sau đó có mâu thuẫn nên muốn đòi lại phần thừa kế của mình

    Câu hỏi: Khi cha tôi mất thì ko có di chúc và tài sản để lại là mảnh đất đang sử dụng của cả gia đình và một phần đất ở nơi khác. Thì trong gia đình có mẹ, chị hai, anh ba và tôi ( các anh chị em đều đã có vợ chồng) tất cả đều đủ điều kiện nhận thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ nhất. Anh tôi đã nhận phần đất ở nơi khác nói trên, nên còn lại mẹ tôi và chị tôi cùng tôi chia phần đất mà gia đình đang sữ dụng để ở từ lâu. Trong lúc đó mẹ tôi có nhờ ae chúng tôi làm giấy xác nhận đồng thuận cho mẹ nhận thừa kế phần đất đó rồi sau này mẹ sẽ chia lại cho tôi và chị tôi sau. Nhưng bây giờ trong giá đình có xảy ra mâu thuẩn nên mẹ tôi nói là ko muốn chia tài sản đất đó nữa. Và lúc nói là sẽ chia sau cũng ko có giấy tờ gì làm chứng hết. Xin văn phòng luật gia minh tư vấn làm sao để lấy lại đc phần thừa kế của mình và nếu có phải kiện thì chi phí ra toà và thuê luật sư khoản bao nhiêu Xin cám ơn.

    Nội dung tư vấn:  Cảm ơn anh/chị đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của anh/chị, chúng tôi xin được tư vấn như sau:


    Bố của anh chết không có di chúc để lại, do đó theo quy định tại  Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc phân chia di sản thuộc trường hợp thừa kế theo pháp luật. Di sản thừa kế sẽ là toàn bộ tài sản riêng của bố anh/chị và một nửa tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với mẹ của anh/ chị.

     
    Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) quy định


    1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:


    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;


    Đúng như anh/ chị nói, những người còn lại trong gia đình là mẹ, chị hai, anh ba và bản thân anh/ chị đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất. 


    Về nguyên tắc, phần hưởng di sản thừa kế của mỗi người sẽ là như nhau, tuy nhiên trong trường hợp mọi người thống nhất thỏa thuận tự phân chia di sản thừa kế mà lập thành văn bản thì văn bản thỏa thuận đó sẽ có giá trị và hiệu lực pháp lý khi có đầy đủ chữ ký của những người thừa kế.


    Điều 656 Bộ Luật dân sự 2015 quy định


    Điều 656. Họp mặt những người thừa kế


    1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:


    a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;


    b) Cách thức phân chia di sản.


    2. Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.


    Theo thông tin anh/ chị cung cấp thì di sản đang có nguy cơ tranh chấp là quyền sử dụng đất. Như vậy cần làm rõ rằng hiện nay thì mảnh đất đó có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa? Và người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó là ai? Và văn bản thỏa thuận phân chia di sản cho phép mẹ anh/chị nhận quyền thừa kế mảnh đất đó đã công chứng chưa?


    Pháp luật hiện hành không bắt buộc văn bản thỏa thuận phân chia di sản phải đi công chứng. Tuy nhiên nếu như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bố của anh chị và văn bản chấp thuận của mọi người trong gia đình về việc cho mẹ anh/chị nhận quyền thừa kế mảnh đất đó rồi thì đó những căn cứ pháp lý cho phép mẹ anh được có quyền sử dụng mảnh đất khi bà gửi hồ sơ yêu cầu chuyển quyền. Điều 57 Luật Công chứng năm 2014 quy định về công chứng thỏa thuận phân chia di sản như sau:


    1. Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản.

    Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác.


    2. Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.


    Trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trường hợp thừa kế theo di chúc, trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có bản sao di chúc.
    ……


    4. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản.


    Như vậy, trong trường hợp anh/chị muốn lấy lại phần thừa kế của mình thì cần phải hủy bỏ được giá trị pháp lý của văn bản đã thỏa thuận trước đó bằng cách lập một thỏa thuận bằng văn bản mới với nội dung hủy bỏ những thỏa thuận trong văn bản trước đó với sự đồng ý của tất cả những người thừa kế. Do đó cần thuyết phục mẹ anh/chị ký vào văn bản thỏa thuận hủy bỏ giá trị pháp lý của văn bản trước đó. Tuy nhiên, việc này cũng hết sức khó khăn bởi hiện gia đình đang có mâu thuẫn. 

    Vấn đề muốn khởi kiện để đòi lại phần thừa kế như anh/ chị mong muốn thì cần phải làm rõ ràng  một số nội dung như đã trình bày ở trên. Và tiền tạm ứng án phí khỏi kiện dân sự phụ thuộc vào giá trị tài sản tranh chấp, cụ thể được quy định tại Danh mục mức án phí, lệ phí tòa án Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Cụ thể:

     Giá trị tài sản có tranh chấp và  Mức án phí tương đương  (đồng)
     
    1. Từ 6.000.000 đồng trở xuống : 300.000 đồng
     
    2. Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng:  5% giá trị tài sản có tranh chấp
     
    3. Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng: 20.000.000 đồng + 4 % của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng
     
    4. Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng: 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 80 triệu đồng
     
    5. Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng: 72.000.000 đồng +2 % của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 2 tỷ đồng
     
    6. Từ trên 4.000.000.000 đồng: 112.000.000 + 0,1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4 tỷ đồng.
     

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

    Trân trọng.
    CV tư vấn: Nông Dung- Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169