Hỏi đáp pháp luật Dân sự

  • Điều kiện và thủ tục phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng?

    • 11/09/2020
    • Ls Trần Khánh Thương
    • Luật sư tư vấn về điều kiện phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng theo quy định của pháp luật hiện hành. Tư vấn về trình tự, thủ tục, thành phần hồ sơ xét duyệt và đề nghị và các vấn đề pháp lý liên quan khác. Nếu bạn gặp vấn đề này cần tư vấn, hỗ trợ giải đáp những thắc thắc, đưa ra hướng giải quyết đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn, bạn hãy liên hệ đến công ty Luật Minh Gia chúng tôi.

    1. Tư vấn về điều kiện phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng.

    Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là danh hiệu được Nhà nước Việt Nam phong tặng hoặc truy tặng những phụ nữ Việt Nam có nhiều cống hiến, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Là một trong những danh hiệu cao quý của đất nước để thể hiện lòng biết ơn, tôn vinh những người có công với cách mạng. Vậy điều kiện và thủ tục phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng được pháp luật quy định như thế nào? Nếu bạn gặp vấn đề này nhưng không có thời gian tìm hiểu quy định của pháp luật, bạn hãy liên hệ đến công ty Luật Minh Gia bằng cách gửi câu hỏi tư vấn hoặc Gọi  1900.6169, luật sư sẽ tư vấn cho bạn những nội dung sau:

    + Điều kiện phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng ;

    + Thành phần hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng ;

    + Trình tự, thủ tục phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng ;

    2. Điều kiện và thủ tục phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng?

    Câu hỏi: Luật sư cho hỏi quy định về phong tặng danh hiệu bà mẹ Việt nam anh hùng như sau: Bà nội vợ tôi năm nay 93 tuổi. Bà có chồng (đời trước) và con (với đời đời chồng sau) là liệt sỹ. Khi chồng trước hy sinh Bà đã phụng dưỡng cha mẹ chồng đến khi những người này chết bà mới đi lấy chồng khác, tuy tái giá bà vẫn nuôi con liệt sỹ đến tuổi trưởng thành và gả chồng cho con, người con duy nhất với đời chồng sau là liệt sỹ hy sinh tại chiến trường Cam phu chia.

    Gia đình đã làm đầy đủ thủ tục, Huyện cũng đã xét duyệt và gửi hồ sơ về tỉnh, nhưng hơn 01 năm nay vẫn chưa thấy kết quả, gia đình hỏi thì viện lý do này lý do khác. Nay gia đình muốn khiếu nại, khởi kiện thì phải làm gì? Rất mong sự hỗ trợ của quý vị Xin chân thành cảm ơn.

    Trả lời: Chào anh! Cảm ơn anh đã tin tường và gửi yêu cầu đến công ty Luật Minh Gia. Vấn đề của gia đình anh, chúng tôi xin tư vấn như sau:

    Thứ nhất, về đối tượng được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

    Căn cứ theo quy định tại Điều 2 Nghị định 56/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

    1. Những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”:

    a) Có 2 con trở lên là liệt sỹ;

    b) Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sỹ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

    c) Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sỹ;

    d) Có 1 con là liệt sỹ và có chồng hoặc bản thân là liệt sỹ;

    đ) Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên.

    Người con là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”, bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật.

    Người chồng là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” mà bà mẹ là vợ của người đó.

    Thương binh quy định tại Điểm b, Điểm đ Khoản 1 Điều này là người đã được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận thương binh, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, bao gồm cả người còn sống và người đã từ trần.

    Trường hợp bà mẹ có chồng, con tham gia hàng ngũ địch nhưng bà mẹ chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì vẫn được xem xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước ‘‘Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

    2. Những trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng phản bội, đầu hàng địch, có hành động gây nguy hại cho cách mạng hoặc vi phạm pháp luật bị Tòa án xét xử bằng hình thức phạt tù mà bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật (kể cả trường hợp được hưởng án treo) thì không được xét tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

    Và quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch số: 03/2014/TTLT-BNV-BQP-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2013/NĐ-CP

    Điều 3. Đối tượng được xét tặng hoặc truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”

    Đối tượng được xét tặng hoặc truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” thực hiện theo Điều 2 Nghị định số 56/2013/NĐ-CP của Chính phủ và các quy định sau:

    1. Trường hợp liệt sĩ là con đẻ đồng thời là con nuôi

    Xét tặng hoặc truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho cả hai bà mẹ nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định.

    Ví dụ: Bà A có 02 con đẻ là liệt sĩ, trong đó có 01 con là con nuôi của bà B; bà B có 01 con đẻ là liệt sĩ và 01 con nuôi (con của bà A) là liệt sĩ, thì cả bà A và bà B đều được xét tặng hoặc truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

    2. Liệt sĩ là con của bà mẹ này lại là chồng của bà mẹ khác

    Xét tặng hoặc truy tặng đối với bà mẹ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định; trường hợp cả hai bà mẹ đều đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định thì xét tặng hoặc truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho cả hai bà mẹ.

    Ví dụ: Bà C có 02 con là liệt sĩ, trong đó có 01 con là chồng của bà H; bà C đủ điều kiện được xét tặng hoặc truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Bà H có chồng là liệt sĩ (con của bà C) và có 01 con là liệt sĩ, bà H cũng được xét tặng hoặc truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

    3. Bà mẹ là vợ liệt sĩ tái giá hoặc bà mẹ là mẹ liệt sĩ tái giá

    a) Xét tặng hoặc truy tặng cho bà mẹ là vợ liệt sĩ tái giá nhưng vẫn có trách nhiệm chăm sóc bố mẹ của liệt sĩ và nuôi con của liệt sĩ đến tuổi trưởng thành hoặc vì thực hiện nhiệm vụ hoạt động cách mạng mà không có điều kiện chăm sóc con hoặc bố, mẹ của liệt sĩ. Các trường hợp này phải được chính quyền cấp xã nơi lập hồ sơ xác nhận.

    b) Xét tặng hoặc truy tặng cho bà mẹ là mẹ liệt sĩ tái giá mà con của mẹ là liệt sĩ bao gồm con của chồng trước và con của chồng sau.

    4. Trường hợp mẹ đẻ của 02 liệt sĩ đã chết khi 2 liệt sĩ đều chưa đến tuổi thành niên, mẹ kế có công nuôi dưỡng cả 2 liệt sĩ và đã được hưởng trợ cấp tiền tuất của 2 liệt sĩ thì mẹ kế được xét tặng hoặc truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

    5. Bà mẹ có nhiều con nhưng đều đã chết, người con là liệt sĩ được xem là người con duy nhất.

    Chỉ xét tặng hoặc truy tặng đối với bà mẹ mà những người con khác đều đã chết trước khi người con là liệt sĩ tham gia cách mạng.

    Theo đó, nếu bà nội của vợ anh thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì có thể làm hồ sơ để được xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

    Thứ hai, về hồ sơ xét duyệt và đề nghị.

    1. Hồ sơ xét duyệt, gồm:

    a) Bản khai cá nhân theo Mẫu số 01a/BMAH; thân nhân của bà mẹ kê khai theo Mẫu số 01b/BMAH, kèm theo giấy ủy quyền theo Mẫu số 02/BMAH;

    b) Bản sao Bằng Tổ quốc ghi công, Giấy chứng nhận thương binh có chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã.

    2. Hồ sơ đề nghị xét tặng hoặc truy tặng, gồm:

    a) Các giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này;

    b) Biên bản xét duyệt của Ủy ban nhân dân cấp xã theo Mẫu số 03/BMAH;

    c) Tờ trình kèm theo danh sách theo Mẫu số 04/BMAH đề nghị tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

    Thứ ba, về trình tự, thủ tục.

    1. Bà mẹ hoặc thân nhân của bà mẹ lập bản khai cá nhân hoặc thân nhân (01 bản chính) kèm theo giấy tờ làm căn cứ xét duyệt (03 bộ), nộp về Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bà mẹ đăng ký hộ khẩu thường trú (đối với bà mẹ còn sống) hoặc nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người được ủy quyền kê khai.

    2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định có trách nhiệm:

    a) Tổ chức họp xét duyệt hồ sơ của từng trường hợp đề nghị tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” với thành phần đại diện cấp ủy, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, quân sự, công an và các đoàn thể có liên quan;

    b) Lập hồ sơ (03 bộ), ký Tờ trình kèm theo danh sách trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.

    3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định có trách nhiệm:

    a) Chỉ đạo cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ, tổ chức thẩm định theo quy định;

    b) Ký Tờ trình kèm theo danh sách và hồ sơ (03 bộ) trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định có trách nhiệm:

    a) Chỉ đạo cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ, tổ chức thẩm định theo quy định;

    b) Ký Tờ trình kèm theo danh sách và hồ sơ (03 bộ) trình Thủ tướng Chính phủ.

    5. Bộ Nội vụ trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, có trách nhiệm thẩm định hồ sơ, trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước xem xét, quyết định tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

    6. Một số quy định chung:

    a) Thời gian xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” hàng năm được tiến hành 03 đợt vào các dịp: Ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4; ngày Quốc khánh 02 tháng 9 và Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 tháng 12;

    b) Trường hợp người kê khai không lưu giữ được giấy tờ làm căn cứ xét duyệt theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì có đơn gửi Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xác nhận để làm căn cứ lập hồ sơ;

    c) Trường hợp người con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên đang ở Trung tâm Điều dưỡng thương binh hoặc cư trú ở địa phương khác thì có đơn gửi Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi quản lý thương binh xác nhận để làm căn cứ lập hồ sơ;

    d) Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, hợp lệ theo quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, Ủy ban nhân dân cấp xét duyệt trả lại hồ sơ và thông báo lý do bằng văn bản. Trường hợp hồ sơ chưa rõ ràng thì yêu cầu kiểm tra, xác minh làm rõ.

    Như vậy, hồ sơ xét duyệt đầu tiên sẽ gửi cho UBND cấp xã, nếu hồ sơ thiếu hoặc không đủ điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày làm việc (kể từ ngày xét duyệt xong), phải trả lại hồ sơ và thông báo lý do bằng văn bản cho người có yêu cầu. Tiếp đến, hồ sơ được gửi lên cấp huyện, tỉnh, bộ nội vụ và cuối cùng được trình lên chủ tich nước để xét duyệt.

    Việc xét duyệt hồ sơ từ cấp xã lên cấp trung ương có quy định giới hạn về mặt thời gian nhưng khi trình lên chủ tịch nước lại không quy định giới hạn về thời gian xét duyệt. Do vậy, khó xác định được trong thời hạn bao lâu thì cơ quan có thẩm quyền phải xem xét xong hồ sơ và đưa ra quyết định truy tặng danh hiệu "Mẹ Việt Nam anh hùng".

    Theo quy định thời gian xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” hàng năm được tiến hành 03 đợt vào các dịp: Ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4; ngày Quốc khánh 02 tháng 9 và Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 tháng 12.

    Vậy nếu hồ sơ của người có yêu cầu được trình lên cho chủ tịch nước kịp các dịp này thì sẽ được xét duyệt. Theo thông tin anh cung cấp, gia đình anh nộp hồ sơ đến nay đã hơn một năm nhưng vẫn chưa nhận được kết quả. Vậy anh có thể gửi đơn khiếu nại gửi đến UBND cấp xã (nơi nhận hồ sơ đầu tiên) theo thủ tục khiếu nại để yêu cầu trả lời rõ bằng văn bản về nguyên nhân chậm trễ này. 

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Điều kiện và thủ tục phong tặng danh hiệu "mẹ Việt Nam anh hùng". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến  để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

    Hotline: 1900.6169