Hỏi đáp pháp luật Dân sự

  • Di chúc hợp pháp và hiệu lực pháp luật của di chúc

    • 22/08/2018
    • Trần Diềm Quỳnh
    • Bố và mẹ em ly hôn cách đây 10 năm. Nhưng vẫn ăn ở chung và sinh hoạt chung. Bố em ốm đau bệnh tật nhiều năm và mẹ con em đều phải chăm sóc như bình thường. Và lúc ra tòa ly hôn thì chỉ yêu cầu tòa giải quyết vấn đề hôn nhân, còn tài sản thì không yêu cầu tòa giải quyết. Tức là vợ chồng về thỏa thuận với nhau.

    Và rồi bố em bị ung thư, nên có ý định bán đất đi để chữa trị. Nhưng tên chính chủ là chỉ mẹ em và đất chưa có sổ đỏ.  Và tên bố em cũng không có trong đó. Nhưng bố em vẫn đòi bán. Và không được sự chấp thuận của mẹ. Và bố em có tìm đến phương án di chúc lại cho người em ruột. Nhưng đến giây phút cuối, bố em lại suy nghĩ và ghi trả lại toàn bộ tài sản cho mẹ em và thân xác sau khi mất.

    Vậy luật sư cho em hỏi là:

    1. Khi bố em viết di chúc mà đất chưa có sổ đỏ, mà tên đất lại là của mẹ em thì liệu rằng di chúc đó có hợp pháp hay không?

    2. Tờ di chúc mà bố em đã ghi cho người em ruột kia có bị mất tác dụng khi đến phút cuối bố em suy nghĩ lại và trao chả cho mẹ em hết mọi thứ. Và còn có 2 người cán bộ địa phương ghi nhận và ký nhận .

    Trả lời : Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

    Thứ nhất, về trường hợp bố bạn viết di chúc mà đất chưa có sổ đỏ:

     

    Điều 624 BLDS năm 2015 quy định về di chúc như sau:

     

    Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”

     

    Di chúc hợp pháp khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 630 BLDS 2015, cụ thể:

     

    “Điều 630. Di chúc hợp pháp

     

    1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

     

    a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

     

    b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

     

    2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

     

    3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

     

    4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

     

    5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.”

     

    Nếu bản di chúc của bố bạn đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên thì bản di chúc đó hợp pháp.

     

    Theo quy định của pháp luật, việc lập di chúc không bắt buộc người lập di chúc phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới được lập di chúc mà chỉ cần có các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất.

     

    Trong trường hợp này cần phải xác định mảnh đất đó là tài sản chung của bố mẹ bạn hay là tài sản riêng của bố bạn, hay tài sản riêng của mẹ bạn, theo quy định tại Điều 33, Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

     

    Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

     

    “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

     

    Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

     

    2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

     

    3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”

     

    Điều 43. Tài sản riêng của vợ chồng

     

    “1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

     

    2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

     

    Trường hợp mảnh đất là tài sản chung của bố mẹ bạn, thì bố bạn có quyền lập di chúc đối với ½ mảnh đất đó.

     

    Trường hợp mảnh đất là tài sản riêng của bố bạn, thì bố bạn có quyền lập di chúc đối với toàn bộ mảnh đất.

     

    Trường hợp mảnh đất là tài sản riêng của mẹ bạn, thì bố bạn không có quyền lập di chúc đối với mảnh đất, khi đó di chúc bố bạn đã lập là không hợp pháp.

     

    Thứ hai, việc bố bạn thay thế bản di chúc:

     

    Khoản 1 điều 640 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

     

     Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào.

     

    Đối với trường hợp của bạn, trước khi mất, bố bạn đã thể hiện ý chí cuối cùng thay thế bản di chúc trước bằng di chúc miệng, có hai người làm chứng. Khoản 1 Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

     

    “1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng..”.

     

    Để di chúc miệng được coi là hợp pháp thì phải có ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại nội dung di chúc, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

     

    Vì bạn không nói rõ sau khi bố bạn di chúc miệng, di chúc có được hai người làm chứng kí tên hoặc điểm chỉ hay không và bản ghi lại đó có được đi công chứng hoặc chứng thực hay không nên chúng tôi chia ra hai trường hợp như sau:

     

    Trường hợp 1: nếu di chúc miệng của bố bạn được hai người làm chứng ghi lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ và trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày di chúc miệng được lập, đã đi công chứng hoặc chứng thực thì di chúc miệng được coi là hợp pháp và đã thay thế bản di chúc trước đó. Trong trường hợp này, bản di chúc trước bị hủy bỏ.

     

    Trường hợp 2: di chúc miệng của bố bạn không được ghi lại, hoặc được ghi lại nhưng không đi công chứng hoặc chứng thực thì không hợp pháp và do đó, bản di chúc trước đó có hiệu lực pháp luật từ thời điểm bố bạn chết, trừ trường hợp gia đình bạn chứng minh được rằng bản di chúc đó đã bị bố bạn hủy bỏ.

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Di chúc hợp pháp và hiệu lực pháp luật của di chúc. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

    Trân trọng

    CV Trịnh Thị Quyên - Công ty Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169