Nguyễn Thị Biển

Đến hạn trả nợ nhưng bên vay không trả thì làm thế nào?

Luật sư giải đáp thắc mắc về yêu cầu tư vấn bên vay không trả nợ khi đã quá thời hạn mặc dù đã liên lạc nhiều lần. Nội dung tư vấn như sau:

Em có thắc mắc muốn hỏi như sau: Năm 2013, gia đình em có cho ông H vay số tiền là 250 triệu, khi vay có viết giấy vay tiền và cam kết đến 6 tháng sau sẽ hoàn trả cả lãi và gốc (tiền lãi tính theo mức lãi suất ngân hàng), đến thời hạn trả thì ông T bị tai nạn giao thông chấn thương nặng, sau đó gia đình ông chuyển về quê sinh sống. Lúc này em có tìm gặp gia đình ông T nhưng họ bảo mọi chuyện không liên quan đến họ và ông T chưa hồi phục nên không có khả năng trả nợ. Đến giữa năm 2016, em tìm đến nhà ông T  thì ông đã khoẻ hẳn, đang ở nhà và không có việc làm. Lúc này ông có viết giấy cam kết là ba tháng sau sẽ hoàn trả tiền, em có ghi âm lại cuộc đối thoại lúc đó. Đến thời hạn trả thì ông lại bỏ trốn mất, anh chị của ông bảo cũng không biết ông bỏ đi đâu nên họ cũng không chịu trách nhiệm. Sau thời gian này em vẫn cố gắng tìm ra tin tức của ông. Hiện tại em đã có địa chỉ chính xác, nhưng gia đình ông chỉ thuê phòng trọ để ở . Ông ở cùng vợ, vợ chồng ông đang làm bảo vệ ở khu công nghiệp  và 2 con gái đã học cấp Hai. Quý luật sư cho em hỏi với tình hình hiện nay thì em có thể trình báo lên cơ quan công an nơi họ cư trú hoặc cơ quan nào khác không? Và khi nhờ đến cơ quan Pháp Luật thì có cách nào để ông T không trốn nữa không? Hoặc là có cách nào khác để em đòi lại số tiền 250 triệu không? Em xin chân thành cám ơn!

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn đến công ty Luật Minh Gia, với vụ việc của bạn chúng tôi có quan điểm tư vấn như sau:

Thứ nhất, hợp đồng vay nợ là sự thỏa thuận của các bên có sự đàm phán về lãi suất, về nghĩa vụ trả nợ,.. tại điều 466 bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về nghĩa vụ trả nợ sau:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Trong trường hợp này, bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện người đó ra tòa án nhân dân quận/huyện nơi người đó đang sinh sống yêu cầu tòa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi khởi kiện tại tòa, bạn cần cung cấp chứng cứ chứng minh về việc vay và cho vay giữa hai bên. Tòa sẽ xác minh quan hệ vay nợ đó có đúng hay không. Nếu đúng như những gì bạn trình bày, tòa sẽ yêu cầu người kia trả lại khoản tiền vay cho bạn. Trong trường hợp người đó không đủ khả năng trả tiền cho bạn thì tòa sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án buộc người đó phải trả nợ.

Thứ hai, vì bên vay sau khi đã vay tiền bạn một cách hợp pháp thông qua hợp đồng vay nhưng sau đó có hành vì bỏ trốn chiếm đoạt số tiền này thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, cụ thể:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 



1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: 



a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; 



b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. 

Như vậy khi này bạn có quyền gửi đơn tố giác hành vi của bên vay khi đã bỏ trốn, chiếm đoạt tài sản của mình đến cơ quan công an quận/huyện nơi người này đang tạm trú hoặc đang thường trú, ngoài ra bạn cũng có thể gửi yêu cầu đến Tòa án và Viện kiểm sát quận/huyện nơi người này cư trú để điều tra làm rõ vụ việc từ đó nếu đủ cấu thành tội phạm sẽ khởi tố vụ án hình sự. 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
CV tư vấn: Hà Tuyền  - Luật Minh Gia

Gọi ngay