Hỏi đáp pháp luật Dân sự

  • CÓ THỂ MANG BAO NHIÊU TIỀN MẶT KHI NHẬP CẢNH VÀO VIỆT NAM?

    • 18/01/2021
    • Nguyễn Thị Tuyết Nhung
    • Việc nhập cảnh vào lãnh thổ Việt Nam đã được pháp luật về hải quan điều chỉnh rất đầy đủ, tuy nhiên trên thực tế thực hiện vẫn nhiều trường hợp gặp khó khăn và có thể dẫn tới những vi phạm không đáng có. Để làm rõ hơn về vấn đề này, Luật Minh gia đưa ra một vài quan điểm tư vấn như sau:

    1. Luật sư tư vấn về việc mang tiền mặt khi nhập cảnh vào Việt Nam

    Tiền theo pháp luật quy định là một loại tài sản được phép lưu thông, đối với trường hợp người nhập cảnh vào lãnh thổ Việt Nam, pháp luật vẫn cho phép họ được mang theo. Tuy nhiên, xuất nhập cảnh luôn là vấn đề nhạy cảm nên đến một ngưỡng nhất định, cá nhân khi nhập cảnh vào lãnh thổ Việt Nam phải làm thủ tục khai báo hải quan. Vậy,

    - Mang từ bao nhiêu tiền mặt cần phải làm thủ tục khai báo hải quan?

    - Thủ tục khai báo hải quan được thực hiện như thế nào?

    - Mức xử lý khi vi phạm quy định này?

    Nếu bạn thắc mắc về các vấn đề liên quan trên nhưng không có thời gian tìm hiểu, hãy liên hệ với công ty Luật Minh Gia để được hỗ trợ tư vấn về các vấn đề này.

    2. Hình thức xử lý vi phạm quy định về khai hải quan của người nhập cảnh đối với ngoại tệ tiền mặt

    Câu hỏi: Qua tìm hiểu tôi biết rằng khi nhập cảnh vào việt nam có thể mang ngoại tệ bằng tiền mặt từ 5.000$ trở xuống, nếu nhiều hơn phải khai báo hải quan. Bạn tôi có mang 350.000$ nhập cảnh Việt Nam nhưng vì không biết luật nên đã không khai báo hải quan nên đã bị tịch thu.

    1. Trường hợp này bạn tôi sẽ bị tịch thu tất cả 350.000$ hay chỉ bị tịch thu số tiền vượt mức cho phép ( bị tịch thu 345.000$)?

    2. Với số tiền như thế này bạn tôi sẽ bị tịch thu luôn hay sẽ được trả lại nếu chấp nhận đóng phạt?

    3. Làm thế nào để bạn tôi có thể nhận lại số tiền này? 

    Rất mong được luật sư tư vấn!

    Trả lời: 

    Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Gia, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

    Việc nhập cảnh vào Việt Nam hiện nay có thể thông qua những phương thức và giấy tờ khác nhau, do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ nên chúng tôi sẽ tư vấn yêu cầu của bạn theo hai hướng ứng với các trường hợp sau:

    Trường hợp 1: Bạn của bạn là cá nhân nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam bằng hộ chiếu hoặc bằng các loại giấy tờ khác có giá trị thay cho hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp (sau đây gọi chung là hộ chiếu).

    Đối với trường hợp này, điều 2 Thông tư 11/2015/TT-NHNN quy định:

    “1. Cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam bằng hộ chiếu mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt trên mức quy định dưới đây phải khai báo Hải quan cửa khẩu:

    a) 5.000 USD (Năm nghìn Đôla Mỹ) hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương;

    b) 15.000.000 VNĐ (Mười lăm triệu đồng Việt Nam).”

    Như vậy, bạn của bạn mang theo 350.000 USD thuộc trường phải khai báo với Hải quan nên việc bạn ấy không khai báo đã vi phạm pháp luật với mức vượt quá lượng cho phép là: 345.000 USD, tương đương 7.990.200.000 đồng.

    Trường hợp 2: Bạn của bạn là cá nhân nhập cảnh qua các cửa khẩu biên giới bằng chứng minh thư biên giới hoặc giấy thông hành xuất nhập cảnh biên giới do các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, của nước có chung biên giới; hoặc bằng hộ chiếu nhưng không qua cửa khẩu quốc tế của Việt Nam.

    Khoản 2 điều 3 Quyết định 92/2000/QĐ-NHNN quy định:

    “Cá nhân khi nhập cảnh có mang đô la Mỹ và các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương trên mức 3000 USD (ba nghìn đô la Mỹ) hoặc mang dưới mức 3000 USD nhưng có nhu cầu mang lại số tiền này ra nước ngoài, cá nhân phải khai báo Hải quan cửa khẩu.” 

    Như vậy, bạn ấy đã mang quá 348.000 USD (tương đương 8.059.680.000 đồng) khi nhập cảnh vào Việt Nam mà không thực hiện khai báo Hải quan.

    Đối với cả hai trường hợp trên, bạn ấy đều đã vi phạm pháp luật về Hải quan với giá trị vượt quá lớn, vì vậy có thể đây chỉ chịu mức xử lý hành chính hoặc có thể cấu thành tội phạm hình sự.

    Nếu không phải tội phạm, mức xử lý hành chính theo điểm d khoản 2 điều 10 Nghị định 128/2020/NĐ-CP quy định là: Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với trường hợp mang vượt mức quy định mà tang vật vi phạm có trị giá tương đương từ 100.000.000 đồng Việt Nam trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 

    Khi đó, số tiền bị tạm giữ sẽ là số tiền mặt vượt quá quy định của pháp luật, tuy vào trường hợp để xác định số tiền bị tạm giữ theo khoản 3 điều 26 Nghị định 128/2020/NĐ-CP. Và số tiền mặt bị giữ lại này sẽ được trả lại cho bạn ấy khi bạn thực hiện xong quyết định xử phạt đó.

    Nếu cấu thành tội phạm, có thể là Tội buôn lậu theo điều 188 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017; hoặc Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới theo điều 189 bộ luật này. 

    Bởi chưa có đủ dữ kiện nên chúng tôi chỉ có thể tư vấn khái quát để bạn tham khảo, mức hình phạt hoặc mức xử lý vi phạm hành chính tùy thuộc vào thực tế khách quan.

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật Minh Gia để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

     

     
Bài viết nổi bật