Vũ Thị Thảo

Chị gái của chồng có quyền yêu cầu phân chia di sản thừa kế khi chồng mất không?

Chào luật sư! Tôi tên N, đang công tác tại trường tiểu học, nay tôi muốn nhờ luật sư tư vấn giúp tôi về luật đất đai. Tôi lấy chồng được 7 năm, không may chồng tôi bị tai nạn đã qua đời. Hiện nay 2 mẹ con tôi đang ở trên mảnh đất do bố mẹ chồng để lại và mảnh đất có sổ đỏ mang tên vợ chồng tôi từ năm 2005.

 Bố chồng tôi đã mất hơn 20 năm nay, còn mẹ chồng tôi vẫn đang ở cùng tôi. Sổ hộ khẩu gia đình do tôi đứng tên làm chủ hộ. Thuế đất tôi trực tiếp đóng đầy đủ hơn 20 năm nay. Hiện nay chị chồng tôi (bỏ nhà đi gần 40 năm) nay quay về đòi nhập khẩu vào sổ hộ khẩu của tôi và muốn chia mảnh đất do vợ chồng tôi đứng tên. Vậy tôi sẽ phải làm gì trong trường hợp này. Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng lựa chọn tư vấn bởi Công ty Luật Minh Gia, chúng tôi tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:

Thứ nhất, liên quan đến việc phân chia di sản thừa kế:

Theo thông tin bạn cung cấp, mảnh đất bạn đang sử dụng có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng bạn từ năm 2005. Do đó mảnh đất được xác định là tài sản chung của vợ chồng bạn. Khi chồng bạn mất thì tài sản chung của vợ chồng được giải quyết theo quy định tại Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình 2014, cụ thể:

"1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác."

Theo đó, khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi. Tức là bạn có quyền sử dụng với 1/2 giá trị mảnh đất, 1/2 giá trị mảnh đất còn lại là di sản thừa kế của chồng bạn. Tuy nhiên, bạn không cung cấp thông tin khi chồng bạn mất có để lại di chúc hay không, do đó có các trường hợp có thể xảy ra như sau:

- Trường hợp chồng bạn mất để lại di chúc thì việc phân chia di sản sẽ thực hiện theo di chúc. Nếu bạn không được chồng bạn lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật thì bạn vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất đó theo quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể: 

"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này."

- Trường hợp chồng bạn mất không để lại di chúc thì di sản thừa kế của chồng bạn sẽ được chia theo pháp luật. Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định người thừa kế theo pháp luật như sau:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Khi chồng bạn mất không để lại di chúc thì 1/2 giá trị mảnh đất sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, bao gồm: mẹ chồng bạn, bạn và con bạn (nếu có). Mỗi người được hưởng phần di sản bằng nhau. Theo đó, chị gái bạn không thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên không có quyền yêu cầu phân chia di sản thừa kế.

Như vậy, trường hợp chị gái chồng bạn quay về yêu cầu bạn phân chia mảnh đất trên thì bạn cần xác định chồng bạn có viết di chúc để lại phần di sản cho chị gái không? Nếu trong nội dung di chúc có ghi nhận thì chị gái chồng bạn được phân chia di sản thừa kế như nội dung di chúc. Trường hợp không có di chúc hoặc trong nội dung di chúc không ghi nhận quyền thừa kế của chị gái chồng bạn thì chị gái chồng bạn không có quyền yêu cầu bạn phân chia mảnh đất này. 

Thứ hai, liên quan đến việc nhập hộ khẩu:

Căn cứ Điều 19, 20 Luật cư trú 2006, sửa đổi bổ sung 2013 quy định điều kiện đăng ký thường trú như sau:

"Điều 19. Điều kiện đăng ký thường trú tại tỉnh

Công dân có chỗ ở hợp pháp ở tỉnh nào thì được đăng ký thường trú tại tỉnh đó. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản."

"Điều 20. Điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương

Công dân thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương:

1. Có chỗ ở hợp pháp, trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ một năm trở lên, trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc Trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ hai năm trở lên;

2. Được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con;

...

3. Được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn và có chỗ ở hợp pháp;

4. Trước đây đã đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương, nay trở về thành phố đó sinh sống tại chỗ ở hợp pháp của mình;"

Theo thông tin bạn cung cấp, hiện nay mẹ chồng bạn đang ở chung sổ hộ khẩu với bạn. Do đó, trường hợp chị gái chồng bạn muốn nhập vào sổ hộ khẩu của bạn thì phải được người có sổ hộ khẩu đồng ý. Tức là, chỉ cần mẹ chồng bạn đồng ý thì chị gái chồng bạn cũng có thể nhập chung sổ hộ khẩu với bạn. Tuy nhiên, việc chị gái chồng bạn nhập vào sổ hộ khẩu của bạn không làm thay đổi quyền thừa kế của chị gái bạn với phần di sản thừa kế chồng bạn để lại như đã phân tích ở trên. 

Trân trọng 

Phòng Luật sư tư vấn Dân sự - Công ty Luật Minh Gia. 

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí