Phạm Diệu

Bên bảo lãnh có phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh có hành vi lừa dối?

Luật sư tư vấn về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh khi bên được bảo lãnh có hành vi lừa dối. Nội dung tư vấn như sau:

Xin chào luật sư! Một năm trước đây mẹ của em có một người bạn làm chức khá cao tại tỉnh vay tiền thời hạn ngắn để chuộc lại một trường mầm non do cô bạn lập ra. Nhưng sau đó số tiền chuộc trường và trả nợ không đủ nên cô đã hứa sẽ giao lại giấy tờ trường cho mẹ em nếu mẹ đưa thêm tiền. Nhưng một thời gian sau khi mẹ đưa số tiền cô yêu cầu để lấy giấy tờ thì cô lại không chịu giao giấy tờ ra. Cô lại đem giấy tờ đi cắm với số tiền là 2 tỷ và nợ cũ của cô với người thứ 3. Tổng cộng số tiền mẹ em cho vay và đưa thêm để lấy giấy tờ là hơn 6 tỷ đồng. Cô bạn đã lừa mẹ em kí một số giấy bảo lãnh nợ với lời hứa là sẽ bán đất để chuộc lại trường gửi mẹ. Hiện tại cô đó đã không còn khả năng trả nợ. Vậy xin hỏi luật sư làm sao để mẹ em không phải chịu trách nhiệm với số tiền mà mẹ em không vay?

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi và yêu cầu tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, về nghĩa vụ của bên vay tiền

Tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

“Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”.

Căn cứ quy định nêu trên và đối chiếu với trường hợp của bạn thì trách nhiệm trả lại khoản tiền vay được xác định là trách nhiệm của bên vay, thời hạn chi trả hai bên có thể thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên, do số tiền đã vay không đủ để chuộc lại trường mầm non và trả nợ nên bên vay có hứa hẹn sẽ giao lại giấy tờ trường cho mẹ bạn, đồng thời mẹ bạn phải đưa thêm một số tiền nhưng sau đó bên vay không thực hiện việc giao lại giấy tờ như đã thỏa thuận.

Trong trường hợp này, nếu hai bên không thỏa thuận được về vấn đề giải quyết khoản tiền vay và giao lại giấy tờ thì mẹ bạn có thể làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp quận (huyện) nơi bên vay đang cư trú để yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, khi nộp đơn mẹ bạn cần kèm theo những bằng chứng chứng minh về việc cho vay.

Ngoài ra, nếu có căn cứ xác định được bên vay có dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền đã vay thì bên vay có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

…”.

Thứ hai, về việc mẹ bạn kí một số giấy bảo lãnh nợ cho người bạn

Do thông tin bạn cung cấp không rõ ràng nên chúng tôi có thể hiểu là ngoài việc mẹ bạn cho người bạn kia vay tiền thì mẹ bạn còn đứng ra bảo lãnh một số khoản vay khác cho người bạn đó. Tại Điều 335 Bộ luật dân sự 2015 quy định về bảo lãnh như sau:

Điều 335. Bảo lãnh

1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Điều 342. Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh

1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại.

Như vậy, theo quy định trên, trường hợp nếu mẹ bạn đứng ra bảo lãnh một số khoản vay khác cho người bạn mà người bạn kia không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì mẹ bạn phải thực hiện thay nghĩa vụ đó. Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp thì mẹ bạn bị lừa dối để ký các giấy tờ bảo lãnh, do đó để mẹ bạn không phải chịu trách nhiệm đối với khoản tiền vay của người bạn kia mà mẹ bạn đã bảo lãnh thì mẹ bạn phải đưa ra được căn cứ chứng minh về việc mình bị lừa dối để ký các giấy tờ bảo lãnh khoản vay.

Trân trọng!

Phòng Luật sư tư vấn Luật dân sự - Công ty Luật Minh Gia

Gọi ngay