Nguyễn Kim Quý

Bán xe đang thế chấp ngân hàng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Luật sư tư vấn về vấn đề mua bán tài sản đang thế chấp tại ngân hàng. Hành vi bán xe đang thế hấp trong ngân hàng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Nội dung tư vấn: Cho tôi hỏi. Tôi có chiếc xe oto 4 chỗ đk 2017 mang tên tôi và đang thế chấp tại ngân hàng, do chuyển đổi cv nên tôi có bán lại chiếc xe cho người khác (có giấy bán xe theo mẫu) giá là 190tr, có thoả thuận là tôi nhận 100tr, còn 90tr người mua trả góp tiếp, giấy tờ mua bán ko công chứng, xong xe bị ngân hàng thu lại do ko có khả năng trả tiền. Tôi có thoả thuận lại là trả lại tiền cho bên mua xe nhưng là hình thức trả dần và người mua ko đồng ý. Vậy giờ người mua xe kiện tôi ra toà, như vậy tôi có truy cứu trách nhiệm hình sự hay ko? Tôi xin cảm ơn.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Gia, với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Bạn có chiếc xe ô tô đăng ký năm 2017 và đem thế chấp tại ngân hàng nên theo quy định tại Điều 320 BLDS 2015, bạn không thể bán, thay thế trao đổi, tặng cho tài sản này cho người khác, trừ những trường hợp theo quy định của luật:

“Điều 320. Nghĩa vụ của bên thế chấp

8. Không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 321 của Bộ luật này.”

“Điều 321. Quyền của bên thế chấp

4. Được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Trong trường hợp này, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi trở thành tài sản thế chấp.

Trường hợp tài sản thế chấp là kho hàng thì bên thế chấp được quyền thay thế hàng hóa trong kho, nhưng phải bảo đảm giá trị của hàng hóa trong kho đúng như thỏa thuận.

5. Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật.

…”

Như vậy, bạn sẽ chỉ có thể bán, trao đổi, tặng cho tài sản đang thế chấp tại ngân hàng là chiếc xe ô tô cho người khác nếu có sự đồng ý của ngân hàng, nếu không có sự đồng ý của ngân hàng để bán chiếc xe thì bạn không có quyền bán chiếc xe đó, hợp đồng mua bán xe của bạn với người khác sẽ bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật. Trường hợp nếu bạn dùng những thủ đoạn gian dối, những thông tin gian dối để làm cho bên mua tin tưởng giao tài sản cho bạn hoặc ban đầu bạn không dùng thông tin gian dối nhưng sau khi các bên giao kết hợp đồng, bạn lại dùng những thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc có tài sản, có khả năng nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng số tiền này vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến việc không còn khả năng để trả lại nữa thì bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 hoặc Điều 175 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

…”

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 100

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

…”

Như vậy, nếu bạn không có những dấu hiệu về việc chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS 2015 như trên thì chưa có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự với bạn mà việc bên mua khởi kiện bạn ra Tòa án nhân dân cấp huyện thì cũng chỉ có thể yêu cầu bạn trả lại số tiền mà bên mua đã bỏ ra để mua xe của bạn do giao dịch mua bán xe của bạn với người đó là giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định của Điều 131 BLDS 2015:

“Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.”

Tóm lại, nếu bạn không có những dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS thì chưa có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự với bạn mà trong trường hợp này, giao dịch mua bán xe của bạn chỉ là giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật và các bên buộc phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và bồi thường thiệt hại nếu có.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí